Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG NĂM A

LỜI CHÚA : Mt 1, 18-24
         Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây : Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà, là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo.
Nhưng đang khi định tâm như vậy thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo : “Hỡi Giuse, con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần: bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”.
Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng : “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.
Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền : ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.
Suy Niệm:
Ðức Maria thụ thai không theo cách thức của người trần, nhưng được sự can thiệp do quyền năng Thánh Thần. Ðiều đó cho thấy: thai nhi có nguồn gốc là Thiên Chúa. Ðức Giêsu là Thiên Chúa thật, nhưng đồng thời Ngài cũng là con người thật như chúng ta. Ngài được cưu mang và được sinh ra. Dấu hiệu Người Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh con là dấu chứng tỏ: đó chính là Ðấng muôn dân trông đợi, là Ðấng ở giữa nhân loại.
Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, vì yêu nhân loại chúng con, Chúa đã muốn trở nên giống chúng con mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Chúa đã muốn làm người để chúng con trở thành con Thiên Chúa. Ôi cuộc trao đổi sao mà kỳ diệu! Chúng con xin thờ lạy và tạ ơn Chúa. Amen.

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A

LỜI CHÚA : Mt 11, 2-11
Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng : “Thầy có phải là Ðấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Ðấng nào khác ?” Chúa Giêsu bảo họ : “Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta”.
Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng : “Các ngươi đi xem gì ở hoang địa ? Một cây sậy phất phơ trước gió ư ? Vậy các ngươi đi xem gì ? Một người ăn mặc lả lướt ư ? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì ? Một tiên tri ư ? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng : “Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con”. Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông”.
Suy Niệm:
“Mù được sáng, què được đi, người nghèo khó được nghe báo Tin Mừng...”. Ðó là phúc âm của thời Thiên Sai. Thiên Chúa đến đem niềm vui cho người nghèo khổ, đem Tin Mừng cho người khát vọng, chỉ những người bé mọn, yếu hèn mới là đối tượng tình yêu của Thiên Chúa. Nếu muốn được đón nhận Tin Mừng, tôi phải có tinh thần thê nào? Tinh thần đó được thể hiện ra sao?
Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến cứu chúng con. Xin Chúa đến giải thoát chúng con khỏi mù lòa, què quặt trong tâm hồn. Xin ánh sáng và sức mạnh của Chúa biến đổi chúng con nên tạo vật mới. Xin cho chúng con hân hoan trong niềm vui ơn cứu độ. Amen.


Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Mùa giáng sinh trong tôi

Tiết trời gần đến giáng sinh càng lạnh dần. Những cành cây khẳng khiu trơ trọi lá như những bàn tay muốn ôm lấy một chút yêu thương ấm áp cho riêng mình. Bầu trời chợt xám xịt và âm u hơn,như mong ngóng tia nắng xua tan đi băng giá và làm bừng lên ánh hồng tươi sáng của bình minh ơn cứu độ.Trong khi đó, phố phường rực rỡ đủ ánh đèn với đủ loại, đủ màu sắc và kích cỡ. Đường xá đông đúc hơn, người ta chen chân nhau ra đường để đi ngắm đèn và xem hang đá. 
Đêm 23. Nó trở về nhà sau một ngày dài làm việc cùng với việc tập văn nghệ để chuẩn bị chương trình vui ca giáng sinh. Đi bộ tới đầu con hẻm nhỏ vào nhà, nó thở phào nhẹ nhõm vì mọi thứ tập dợt và chuẩn bị đã xong. Dù rất mệt nhưng nó rất vui vì cùng với anh chị em đóng góp công sức nhỏ bé của mình.Nó thầm tạ ơn Chúa. Nó vẫn bước tung tăng hết con hẻm nhỏ, tới trước cửa nhà,nó ngước nhìn ngôi sao điện nhấp nháy trên cao, bỗng dưng, lòng nó chùn xuống. Nó ngồi phịch trước cổng nhà, lòng thấy trống vắng khôn tả. Và nó nhận ra...ngôi nhà của mình thật lạnh lẽo vì thiếu vắng một hang đá Bêlem xa xưa.
Nó ngồi thừ ra và bắt đầu nghĩ ngợi. Nó biết việc làm hang đá không phải chỉ để trưng bày cho đẹp nhưng là để tôn vinh Ngôi Hai Con Chúa làm người. Và riêng đối với nó, được chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ đơn sơ và trò chuyện với Ngài mỗi đêm trong mùa Giáng Sinh là những khoảnh khắc tuyệt vời và hạnh phúc nhất. Nó nhớ lại những mùa noel trước. Dù nhà nó chật chội nhưng cũng đủ không gian để nó tự tay làm một hang đá nhỏ xinh. Xung quanh toàn là Lương dân nên chỉ có một mình nhà nó lo dọn dẹp và trang trí đón giáng sinh mà thôi. Nhưng khi nó làm xong hang đá, dù hang đá nó làm không to và hoành tráng nhưng bà con và các em nhỏ trong xóm vẫn thường tụ tập lại để xem ngắm. Đặc biệt là các em nhỏ cứ rộn ràng đòi người lớn chụp hình và chỉ vào hang đá tíu tít hỏi" chị ơi, cái tượng này là ai vậy chị ?" Nó khẽ cười vui và nói"Chúa Hài Đồng Giêsu đó các em". Rồi nó kể cho các em nghe về câu chuyện Chúa Giáng Sinh. Các em tròn xoe mắt chăm chú lắng nghe thật đáng yêu làm sao! Nó vui lắm! Nó biết dù rằng trong lòng bà con và các em nhỏ nơi đây chưa ý thức được sự hiện diện của Chúa nhưng nó tin họ không chỉ bị thu hút bởi ánh đèn lung linh mà hơn hết chính là sức hút mầu nhiệm Tình Yêu của Con Chúa và vẻ đẹp huyền diệu tỏa ra nơi hang đá Bê lem. Nó cảm thấy hạnh phúc vì ít ra mình cũng góp một phần nhỏ đem Chúa Giáng Sinh đến cho bà con nghèo nơi xóm nhỏ ven sông này. 
Và nó vẫn thường viếng hang đá ngay trước nhà mỗi đêm rồi mới đi ngủ. Nó thấy lòng ấm áp và chìm đắm trong bình an cùng tình yêu của Con Thiên Chúa làm người. Chứ không phải như lúc này, chỉ một mình nó đang ngồi trong bóng đêm cô độc lạnh lẽo cùng với ánh đèn neon nhấp nháy vô hồn. Nó bỏ quên điều gì chăng? Nó tự hỏi và thấy bối rối quá đỗi. Đôi lúc ta cứ lo làm việc này việc nọ mà ta cứ nghĩ đó là tất cả những gì quan trọng nhất và đẹp lòng Chúa rồi, nhưng khi ta nhìn lại và lắng đọng với Ngài thì ta thấy mình thật thiếu sót và những điều Ngài muốn luôn vượt lên trên suy nghĩ thấp hèn của loài người. Nó hoang mang và buồn lắm. Vì nó không muốn đón Chúa Giáng Sinh một như một lễ hội trần tục và hào nhoáng như xã hội và những ánh đèn rực rỡ vô nghĩa ngoài kia ! 
Nó lê từng bước nặng nhọc vào nhà, quăng mình xuống giường và chạy ùa vào dòng ký ức của một giấc mơ thân thương. Nó thấy mình đang đứng trước hang đá Bê lem. Cảnh vật xung quanh phủ một màu trắng của băng tuyết. Cái lạnh đến rợn người. Nó định chạy đi để trốn cái lạnh nhưng nó ngó vào hang đá và thấy Chúa Hài đồng vẫy tay gọi nó " Con có muốn vào đây và trở thành một sợi rơm trong máng cỏ để sưởi ấm Ta không?"....
Nó choàng tỉnh giấc sau một giấc ngủ đêm dài lạnh lẽo. Những tia nắng mai lung linh nhảy múa trên những cành lá truớc hiên nhà. Nó tự nhủ "hôm nay là 24. Giáng sinh đến thật rồi.!". Giấc mơ đêm qua đẹp quá! Và nó muốn biến giấc mơ thành sự thật. Nó vội ra khỏi giường và lục tìm trong tủ đồ lưu niệm cũ. Nào là giấy bóng, dây kim tuyến, các tượng bò lừa và mục đồng, mẹ Maria và Thánh Giuse. Nó nhìn vào tượng Chúa Hài Đồng đã bám bụi. Nhưng lạ quá! Nó thấy Ngài như đang mỉm cười. Lòng nó thấy ấm áp và hân hoan. Nó biết không có gì là muộn màng.Nó khẽ gọi " Chúa Hài Đồng ơi!..."
Viết trong tâm hồn

Hoa Xương Rồng

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

CHÚA NHẬT 2 MÙA VỌNG NĂM A

LỜI CHÚA : Mt 3, 1-12
Ngày ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng : “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”. Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo : “Có tiếng kêu trong hoang địa rằng : Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”.
Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Bấy giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan.
Thấy có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì Gioan bảo rằng : “Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. Chớ tự phụ nghĩ rằng : tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay : Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Ðây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối ; còn Ðấng sẽ đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người. Chính Ðấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt”.
Suy Niệm:
Gioan kêu gọi mọi người ăn năn sám hối vì Nước Trời đã đến gần. Ăn năn sám hối nghĩa là thay đổi cuộc sống, thay đổi tư tưởng và thay đổi những hành động không phù hợp với ý Chúa, không xứng hợp với đời sống người Kitô hữu, để bắt đầu một cuộc sống mới tốt đẹp. Hay nói cách khác là dẹp bỏ những chướng ngại lớn nhất trên con đường trở lại với Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Cha, xin giúp chúng con nhìn ra con người yếu hèn của mình. Xin cho chúng con khám phá ra những ngăn trở làm chúng con không đến được với Cha, không đến được với anh chị em chúng con, làm cho chúng con đánh mất chính mình.
Xin cho chúng con biết tìm về tận căn của những lỗi phạm ấy và làm một cuộc hoán cải đúng nghĩa, để nhờ hoa trái của lòng sám hối, chúng con đáng được Cha thương trong ngày đó. Amen.


Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Niệm khúc mùa đông

Tháng 12 đã về!
Chiều đông. Tiết trời se lạnh. Những làn gió đông khẽ lay nhẹ cành lá. Tôi khoác lên mình chiếc áo dài tím.Tôi tự nhắc mình rằng : Mùa Vọng đến rồi ! Tôi ngắm mình trong gương, bỗng dưng thấy mình rạng ngời và...đẹp hơn ngày thường rất nhiều trong màu áo tím. Tôi khẽ cười rồi dắt xe đạp ra, không hiểu sao hôm nay tôi không thích đi đến nhà thờ dâng lễ bằng xe máy, tôi hòa mình vào dòng xe cộ đông đúc. Từng vòng bánh xe cứ quay đều đều như những vòng quay điên đảo của cuộc sống nhưng nó không làm vội vã bước chân cuả tôi, tôi vẫn đạp xe thong thả, miệng khẽ hát " xin cho lòng chúng con luôn mở rộng chờ mong Chúa đến...". Tôi thấy mình bình an, vui mừng và hân hoan. Tôi không nghĩ trong lòng mình lại háo hức mong chờ mùa vọng đến như vậy!
Quang cảnh nhà thờ vẫn rất thân thuộc nhưng sao tôi thấy không gian, cây côí và mọi người xung quanh như đang mặc lấy màu tím của mùa vọng này. Mọi người như được xích lại gần nhau hơn, từng nụ cười,từng ánh mắt, từng câu nói chào nhau khi gặp nhau trước, trong và sau thánh lễ như rộ hẳn lên niềm vui tươi. Lòng người như ấm áp hơn giưã Tình Chúa và tình người trong những ngày đông này. Chủ tế mặc áo lễ màu tím, ca đoàn mặc áo tím, những ngọn nến và những bông hoa trên cung thánh màu tím,phía dướí cộng đoàn xen lẫn giưã những chiếc áo đủ màu là những chiếc áo tím đơn sơ nhưng lại nổi bật hơn hẳn. Cùng với tâm tình của bài Tin Mừng trong Chúa Nhật thứ nhất mùa vọng này đó là " Hãy tỉnh thức và sẵn sàng để đón chờ Chúa đến" như gợi mở ra trong lòng mỗi người những tâm tình lắng đọng sâu xa, tôi và mọi người đang hướng lên phía trên cung thánh - nơi Mình Thánh Chúa ngự như cùng một tâm tình, cùng một niềm mong đợi hướng về trời cao. Tất cả dệt nên một bức tranh thánh lễ màu tím thật đẹp và ấm áp, tím của đợi chờ trong niềm vui.
Lạy Chúa, Mùa Vọng về mang theo những ngày đông dài lạnh giá làm lòng con càng thêm thấm thiá được cái lạnh lẽo cuả cuộc đời chúng con nếu không có Chúa. Đôi lúc con tự hỏi tình cờ hay là một mầu nhiệm mà Chúa lại đến với nhân loại chúng con trong mùa đông lạnh lẽo như thế? Mùa đông lạnh lẽo của đất trời cũng chính là mùa đông lạnh lẽo cuả xã hội và của từng người chúng con. Chúng con đang lạnh lẽo trong những băng giá cuả tội lỗi. Và chính vì Chuá biết chúng con đang lạnh lẽo, đang thiếu hơi ấm của Tình Yêu nên Chúa đã đến để làm ấm lòng chúng con bằng Tình Yêu của Chúa. Và những ngày được sống trong niềm tỉnh thức ngóng trông đợi chờ Chúa đến là những ngày hạnh phúc của chúng con.
Xin Chúa cho chúng con không chỉ sống tâm tình tỉnh thức trong mùa vọng này mà là mỗi giây, mỗi phút,mỗi ngày trong đời, chúng con luôn mặc cho mình chiếc áo tím không chỉ là bên ngoài mà là tím trong tâm hồn chúng con, màu tím cuả sự mong chờ,và cũng chính là màu hi vọng cho chúng con,để tâm hồn lạnh giá và khô cằn chúng con luôn biết mở lòng mình ra để đón chờ Chúa đến bằng một thái độ hân hoan, sẵn sàng và tỉnh thức hơn. Amen!

Viết trong tâm hồn
Hoa Xương Rồng


Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM A

LỜI CHÚA : Mt 24, 37-44
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng : “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến.
Nhưng các con phải biết điều này là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”.
Suy Niệm:
Con người không biết trước được mình sẽ chết lúc nào, chết ở đâu, chết bằng cách nào ?... Thế nhưng một điều có thể chắc chắn là ai ai cũng phải chết. Chết không phải là điều đáng sợ, nhưng chết làm sao mới là điều phải quan tâm.
‘Sống sao thác vậy’. Sống trong ơn lành, chết trong bình an. Sống trong tình yêu thương, chết trong niềm hạnh phúc.
Mỗi người chỉ chết một lần, và điều gì đi sau cái chết sẽ mãi mãi không bao giờ đổi thay. Chúng ta sẽ sống thế nào để khi giờ Chúa đến chúng ta được thanh thản ra đi mà không phải hối tiếc.
Cầu Nguyện:
Lạy Cha, hôm nay toàn thể Giáo Hội chúng con bước vào mùa vọng. Mùa mà Giáo Hội dành đặc biệt để thúc giục con cái mình chuẩn bị sẵn sàng và thức tỉnh luôn, để đón mừng ngày Ðức Giêsu đến lần thứ hai.
Lạy Cha, xin ban Thánh Thần của Cha đến mỗi người trong gia đình chúng con, giúp chúng con biết khôn ngoan chuẩn bị cho mình một cuộc ra đi bình an vào cõi vĩnh hằng. Xin cho chúng con biết chọn lựa cái bất diệt chứ không phải cái mau qua. Ðể chúng con được hân hoan trong ngày trình diện Cha, và chúng con sẽ mãi mãi sống trong ân tình và hạnh phúc bên Cha. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN – C ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

LỜI CHÚA : Lc 23, 35-43
Khi ấy, các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu mà rằng: “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Ðấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. Quân lính đều chế giễu Người và đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”. Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người Này Là Vua Dân Do Thái”.
Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: “Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”. Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao ? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu ?” Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Suy Niệm:
Trên thập giá, trước sự nhạo cười của dân chúng, lời chế giễu của quân lính, sự sỉ nhục của kẻ trộm cùng bị đóng đinh, Ðức Giêsu vẫn thinh lặng. Xem ra Ngài hoàn toàn thất thế, là kẻ chiến bại, vì trước con mắt người đời, Ðức Giêsu chẳng còn chút giá trị.
Thế nhưng, tại sao anh trộm lành lại van xin: “Khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi ?”. Đây hẳn là một lời cầu xin tha thiết của kẻ có lòng tin.

Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, bài Tin Mừng hôm nay có nhiều điều làm con ngỡ ngàng: Tại sao Chúa lại im lặng ? Tại sao Chúa không tỏ uy quyền của Chúa ra một chút ? Tại sao giữa lúc thất thế của Chúa mà anh trộm lành lại có một niềm tin vững mạnh để tuyên xưng vào vương quyền của Chúa ?
Vâng, chỉ có Vua Tình Yêu trong Vương Quốc Tình Yêu mới có thể nhẫn nại, yêu thương trước những ngỗ nghịch như thế. Tình yêu được tràn lan đến hết mọi người, không phân biệt tốt, xấu. Chính vì thế anh trộm tội lỗi đã được mạc khải một huyền nhiệm cao siêu về Nước Trời. Cùng với tâm tình của anh trộm lành, chúng con xin thưa lên với Chúa: Chúng con kính tôn Chúa là Vua của chúng con, xin đón nhận chúng con vào vương quốc vĩnh cửu của Chúa. Amen.



Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN C

Phúc Âm: Lc 21, 5-19
"Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có mấy người trầm trồ về đền thờ được trang hoàng bằng đá tốt và những lễ vật quý, nên Chúa Giêsu phán rằng: "Những gì các con nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá". Bấy giờ các ông hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, bao giờ những sự ấy sẽ xảy ra, và cứ dấu nào mà biết những sự đó sắp xảy đến?" Người phán: "Các con hãy ý tứ kẻo bị người ta lừa dối. Vì chưng, sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến mà tự xưng rằng: 'Chính ta đây và thời giờ đã gần đến'. Các con chớ đi theo chúng. Khi các con nghe nói có chiến tranh loạn lạc, các con đừng sợ, vì những sự ấy phải đến trước đã, nhưng chưa phải là hết đời ngay đâu".
Bấy giờ Người phán cùng các ông ấy rằng: "Dân này sẽ nổi dậy chống lại dân kia, và nước này sẽ chống với nước nọ. Sẽ có những cuộc động đất lớn mọi nơi; sẽ có ôn dịch đói khát, những hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể. Nhưng trước những điều đó, người ta sẽ tra tay bắt bớ, ức hiếp và nộp các con đến các hội đường và ngục tù, điệu các con đến trước mặt các vua chúa quan quyền vì danh Thầy; các con sẽ có dịp làm chứng. Vậy các con hãy ghi nhớ điều này trong lòng, là chớ lo trước các con sẽ phải thưa lại thể nào. Vì chính Thầy sẽ ban cho các con miệng lưỡi và sự khôn ngoan, mọi kẻ thù nghịch các con không thể chống lại và bắt bẻ các con. Cha mẹ, anh em, bà con, bạn hữu sẽ nộp các con, và có kẻ trong các con sẽ bị giết chết. Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu các con cũng sẽ chẳng hư mất. Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con".

Suy Niệm:
Chúa Nhật 33 Thường Niên Năm C
Malaki 4,1-2a (theo Vulgata); 3,19-20a (theo HyLạp); 2 Thessalonica 3,7-12; Tin Mừng Luca 21,5-19
Sẽ có ngày cả thế giới và vũ trụ này biến đổi. Bao giờ, thế nào và có những dấu hiệu nào báo trước: đó là những câu hỏi mà luôn luôn người ta muốn biết? Người ta cố vặn vẹo các bản Kinh Thánh để đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Và các đoạn sách chúng ta đọc hôm nay cũng đã giải thích, khai thác rất nhiều.
Do đó chúng ta càng phải thận trọng khi tìm hiểu những bài Kinh Thánh này. Chúng ta sẽ trung thành và cởi mở đón nhận giáo huấn của Chúa chứ không tìm cách thỏa mãn tính tò mò tự nhiên về thời tận thế hay về lúc thời cơ biến đổi.

1. Sẽ Ðến Ngày Của Chúa
Trước hết chúng ta thường quan niệm tận thế là lúc tất cả thế giới và vũ trụ này đều biến đổi. Ðó cũng là ngày Ðức Giêsu Kitô trở lại để mở cuộc chung thẩm, chấm dứt nếp sống trần gian và mở ra đời sống vĩnh cửu. Ngày ấy cũng thường được đồng hóa với ngày của Thiên Chúa mà các sách Cựu Ước và nhất là các sách tiên tri thường nói đến. Ít ra chúng ta vẫn coi những điều Cựu Ước viết về ngày của Thiên Chúa như là những mạc khải đầu tiên và xa xôi nhất về ngày trở lại của Ðức Giêsu, cũng còn được gọi là ngày thế mạt. Nhưng sự thật không quá đơn sơ như vậy.
Và ngay từ đầu chúng ta phải có những quan niệm rõ ràng. Nói đúng hơn, chúng ta phải cố gắng hiểu những từ ngữ trên cho thật đúng kẻo tư tưởng và đức tin đâm ra lộn xộn.
Nói một cách chung, khi nghe Cựu Ước nói đến ngày của Thiên Chúa thì chúng ta phải đặt mình vào trong tâm lý của người Do Thái mà tìm hiểu. Chẳng hạn bài sách Malaki hôm nay: Chúng ta sẽ không hiểu đúng, nếu không đặt nó vào khung cảnh của thời bấy giờ. Khi ấy vào khoảng năm 450 trước Ðức Giêsu ra đời; và là khoảng 40 năm sau khi con cái Israel lưu đày ở Babylon trở về. Những người này đang gặp nhiều khó khăn cả về vật chất và nhất là về tinh thần. Chúa đã không hứa đưa dân lưu đày trở về một cách vinh quang ư? Người bảo đền thờ sẽ được xây lại một cách huy hoàng. Sion sẽ bừng sáng dưới ánh quang vinh của Người, khiến dân muôn nước sẽ đổ về thờ lạy ở Giêrusalem.
Nhưng sự thực, ngày trở về đâu có hiển hách gì? Chỉ có một nhóm ít người đã được nhờ ơn Hoàng đế Ba Tư trở lại khôi phục xứ sở. Về đến nơi, toàn "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Ðền thờ thì đổ nát, đất đai thì dân ngoại đã lấn chiếm... Thấy lệnh của Hoàng đế cho phép tái thiết thánh đường và cho phép dân lưu đày được chiếm lại đất đai, đám dân ngoại đâu có vui vẻ gì... Họ làm hết cách để cản trở. Họ khiến con cái Israel phải ngã lòng. May nhờ có Ezra và Nêhêmya mang uy tín và tiền nong của hoàng đế về giúp đỡ. Người Do Thái đã xây lại được một phần nhỏ của Giêrusalem ngày trước. Nhưng độc lập dân tộc đâu có thấy: nay Ai Cập xâm chiếm, mai Hy Lạp đô hộ. Chẳng thấy thời đại thiên sai đâu cả! Có lẽ vì vậy mà ngay đến hàng tư tế cũng đâm ra chán nản, không còn trung thành với sứ mạng phục vụ Lời Chúa và Bàn Thờ nữa. Giáo dân thì khỏi nói: Họ chểnh mảng lễ lạc và kinh kệ. Rồi đời sống luân lý xã hội cũng sa sút theo: gian thương bóc lột, phóng túng ngoại tình, chẳng còn đâu phân biệt được là dân của Chúa. Như vậy có phải là Người đã không trung thành giữ Lời đã Hứa? Và đã bỏ dân? Chấp nhận để thế giới và xã hội này nằm trong tay sự dữ và kẻ dữ? Nhiều người, ngay cả những người đạo đức nhất, cũng đang gặp khủng hoảng về niềm tin. Chúa sẽ trả lời thế nào?
Người sai Malaki và các ngôn sứ đến. Họ nói Lời của Người. Và bài sách hôm nay ghi lại những tư tưởng chính yếu nhất. Trước hết Ngày của Thiên Chúa sẽ đến. Ðừng tưởng mọi sự sẽ như thế này mãi. Thiên Chúa không bỏ dân Ngài. Sự dữ không thống trị mãi... Rồi ngày ấy sẽ phừng phừng cháy như một hỏa lò. Hình ảnh này được chọn vì "tất cả phường kiêu mạn và làm điều phi pháp chỉ là rơm rạ". Và như vậy Ngày của Thiên Chúa sẽ là lúc Người tiêu diệt, trừng phạt kẻ dữ, "không để lại cho chúng một rễ hay một cành".
Nhưng hình ảnh hỏa lò phừng phừng cháy cũng có ý nói về Thiên Chúa. Biết bao lần các sách Cựu Ước dùng hình ảnh "lửa" đi qua các miếng thịt mà Abraham đã phân ra. Người hiện ra với Môsê nơi một bụi gai cháy. Người dùng cột lửa cột mây dẫn dân trong sa mạc. Người lấy lửa thiêu đốt lễ vật của Êli... Thường khi các tác giả Thánh kinh cũng còn ví cơn thịnh nộ của Chúa như lửa... Do đó ở đây, Malaki muốn nói tới Ngày của Chúa có khía cạnh trừng phạt tiêu diệt kẻ dữ như lửa đốt cháy rơm rạ và cành khô. Sự thánh thiện nóng nảy của Người thiêu hủy tội lỗi và tội nhân như than hồng tẩy sạch môi miệng Isaia.
Nhưng đó chỉ là một mặt, sửa soạn cho một mặt khác. Ðức Nghĩa của Thiên Chúa, sự thánh thiện của Người sẽ hiện ra như mặt trời, và nói đúng hơn, như ánh sáng mặt trời vì chính Thiên Chúa mới là mặt trời. Người tỏa sự thánh thiện của Người như ánh sáng chiếu trên người công chính và chữa lành họ, tức là cứu họ ra khỏi tình trạng thua thiệt hiện nay...
Như vậy, những lời Malaki hôm nay không trực tiếp nói về ngày thế mạt, chung thẩm như chúng ta thường hiểu là ngày tận thế. Ðó là lời tiên tri về Ngày Chúa viếng thăm cứu độ dân Người sau những thời gian thử thách nặng nề. Có nhiều ngày trong lịch sử dân Chúa đã thực hiện quan niệm Ngày của Chúa. Nhưng tất cả những ngày cứu độ ấy cuối cùng chỉ là hình bóng báo trước Ngày Thiên Chúa cứu độ trong Ðức Giêsu Kitô... Chính việc Ðức Giêsu đến trong thế gian, giáo huấn và công việc của Người đã xét xử vì đã phân biệt kẻ tin người không tin, kẻ lành và người dữ. Sự xét xử này dĩ nhiên chưa toàn diện và quyết liệt vì loài người còn tiếp tục sinh ra trong thời gian. Khi nào Ðức Kitô trở lại thì sẽ có cuộc chung thẩm vì không còn có tạo vật mới nữa, nhưng tất cả đều nhìn thấy vinh quang của Người mà phân ra làm hai: hoặc đi vào luận phạt của "hỏa ngục" hoặc đi vào thiên đàng là nơi sáng láng rực rỡ.
Do đó lời sách Malaki và những lời tiên tri khác về "Ngày của Thiên Chúa" cuối cùng vẫn áp dụng được cho Ngày Ðức Kitô trở lại phán xét kẻ lành người dữ, nhưng một cách gián tiếp và xa xôi thôi. Trong các sách Tân ước có những lời trực tiếp hơn hay không?

2. Sẽ Có Ðiềm Báo Trước
Theo các sách Tin Mừng - mà tác phẩm của Luca là một - Ðức Giêsu đã nói về thời gian thế mạt vào những ngày cuối đời sống trần gian của Người. Môn đồ trỏ cho Người thấy, đứng ở nơi cao nhìn xuống, đền thờ Giêrusalem khi có ánh mặt trời tỏa xuống trông đẹp biết bao! Ai chối được điều này. Nhưng Ðức Giêsu đã nhìn xa hơn hiện tại. Người thấy trước ngày mà cơ sở huy hoàng kia sụp đổ đến nỗi không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào. Môn đệ hỏi Người bao giờ điều ấy xảy ra? Người tựa vào câu hỏi để nói đến biến cố vĩ đại hơn nữa, mà việc Giêrusalem sụp đổ chỉ là hình bóng, cũng như Người đã tựa vào lời khen quang cảnh đền thờ trước mắt để nói sang định mệnh của nơi thờ phượng này. Do đó, việc tiên báo về số phận đền thờ là lời mở đầu báo trước thời cánh chung.
Các tác giả Matthêô và Maccô đã thuật lại nhiều lời tiên báo này. Tựu trung họ đã dùng hình ảnh của Cựu ước và văn chương Khải huyền thời bấy giờ về Ngày của Thiên Chúa để diễn tả ngày thế mạt và chung thẩm. Có thể nói họ không có ý kiến mới và hình ảnh mới. Vẫn là cảnh trời long đất lở, cảnh lửa cháy phừng phừng, trừng phạt kẻ dữ... thưởng công người lành. Tác giả Luca sẽ có lời lẽ như vậy ở đoạn sau của bài đọc hôm nay. Và chúng ta đã có đại ý trong bài sách Malaki rồi.
Nhưng chúng ta hãy chú ý đến lời Luca nói đến cách Chúa tiên báo những điều trước. Người báo sẽ có các tiên tri giả đến lừa gạt tín hữu; và sẽ có những tin tức về chiến tranh và nổi loạn. Rồi như chưa rõ đủ, Người còn thêm: Sẽ có dân này chống lại dân kia; sẽ có động đất, ôn dịch, đói kém và nhiều điều kinh khủng trong trời đất... "Nhưng chưa phải là cùng tận ngay đâu".
Chớ gì chúng ta biết chú trọng đến câu kết luận này. Theo Luca, Chúa không dính liền thời gian cùng tận và những hiện tượng xã hội và thiên nhiên vừa kể. Do đó đừng ai nghĩ chiến tranh, đói kém, thiên tai... là dấu sắp tận thế. Về ngày giờ ấy chính Con Người cũng không biết để mạc khải cho ta, thì ta đừng nghĩ có thể khẳng định những điểm nào chắc chắn sẽ báo trước Ngày Ðức Kitô trở lại... Người sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm.
Có điều chắc chắn là khi còn ở xa, và rất xa ngày tận cùng, sẽ có bắt đạo. "Người ta sẽ tra tay trên các ngươi vì Danh Ta". Ý Người muốn nói: do đó các ngươi phải mừng vì là lúc các người được tỏ hiện như Người đã tuyên chứng cách vinh hiển trước tòa Philatô và trong cuộc tử nạn. Người biết chúng ta không hoàn toàn như Người, nên Người an ủi: chính Người sẽ ban lời ăn tiếng nói cho chúng ta ở trước tòa và không ai cự lại hay kháng lý được với chúng ta.
Lời hứa này, Luca đã thấy thực hiện nơi Stêphanô và các tông đồ; nên ông đã viết lại một cách vững vàng. Ðồng thời kinh nghiệm của Hội Thánh thời sơ khai cũng cho Luca thấy Lời báo trước về những cuộc bắt bớ không mơ hồ tí nào. Thế nên ông đã ghi lại những lời sau đây một cách cũng hết sức chắc chắn: "Các ngươi sẽ bị nộp do cả cha mẹ, anh em bà con và bạn hữu; và sẽ bị mọi người ghét vì Danh Ta. Nhưng (đây là lời an ủi) dù một sợi tóc cũng không rơi mất khỏi đầu các ngươi"!
Chúng ta có thể nghĩ Luca đã viết lầm câu này. Ở chỗ khác Chúa Giêsu không nói như vậy. Người bảo chẳng có sợi tóc nào rơi xuống mà không có ý Cha trên trời. Chắc chắn Luca biết như vậy. Nhưng ở đây người muốn nói: không một đau khổ nào vì Danh Chúa sẽ rơi mất. Nó sẽ đem lại hạnh phúc. Vì thế chúng ta hãy kiên trì.
Thiết tưởng đọc thấy tư tưởng của tác giả Luca như thế, còn mấy ai muốn thắc mắc về thời tận cùng nữa? Phần lớn những lời nói về ngày đó chỉ là hình ảnh. Tư tưởng chính yếu là Chúa sẽ đến xét xử lành dữ như Malaki đã viết. Còn về các điềm báo trước, cũng chẳng có dấu hiệu nào trực tiếp. Ðiều thực hơn cả là cho đến ngày ấy, tín hữu sẽ gặp thử thách và bắt bớ. Số chết vì Chúa cũng sẽ nhiều, nhưng số phận chung của tất cả là sẽ bị mọi người ghét. Tuy nhiên, ơn Chúa sẽ không thiếu cho những ai kiên trì và Người bảo đảm sự sống và sự sống lại cho họ. Bổn phận của các tín hữu chỉ còn là phải phấn đấu. Có khi phải phấn đấu một cách cụ thể như bài thánh thư hôm nay nói.

3. Chúng Ta Hãy Lao Ðộng
Nhiều tín hữu ở Thessalonica tưởng rằng sắp đến Ngày Ðức Giêsu Kitô trở lại. Họ còn được nhiều kẻ tự coi là tiên tri đến dẫn chứng thêm. Có khi bọn này còn giơ cả những bản văn bảo rằng của các tông đồ ra làm tài liệu. Thế là nhiều người ở Thessalonica chểnh mảng mọi việc bổn phận và nhất là việc làm ăn sinh sống... để lấy lẽ "lo việc phần hồn và việc đạo". Hậu quả là xảy ra tình trạng bất ổn về tư tưởng, đưa tới sự xáo trộn về đời sống thực tế. Nhiều kẻ không lao động sản xuất nữa và sống bám... nếu chưa phải là đã có những hành động bất chính. Thánh Phaolô bảo các tín hữu phải tránh những con người ấy và đừng sống như họ, nhưng hãy bắt chước chính người.
Khi ở Thessalonica, Phaolô "đã làm lụng... lao nhọc vất vả ngày đêm... không ăn bám vào ai". Không phải vì bó buộc, bởi lẽ, công dân Rôma không bó buộc phải lao động và đã làm việc bàn thờ thì có quyền sống nhờ bàn thờ. Nhưng người đã tự tay lo lấy miếng cơm manh áo đang khi rất nhiệt thành làm việc tông đồ. Ðể làm gì? Người nói: để khỏi nên gánh nặng cho ai trong giáo dân, để làm gương cho mọi người... và ở chỗ khác người nói: để Tin Mừng người rao giảng được sáng giá.
Ðối với người Thessalonica, nếp sống lao động rõ rệt và vất vả này, đang khi có quyền không phải làm như vậy, là lý rất mạnh để truyền và khuyên họ phải lao động, phải làm lấy mà ăn, chứ đừng nhàn cư vi bất thiện, lê la nói hết chuyện này sang chuyện khác, và toàn những chuyện vô lý, khiến đời sống mất trật tự.
Ðối với chúng ta sống sau Công đồng Vatican và thêm kinh nghiệm xã hội chủ nghĩa, lời khuyên của thánh Phaolô phải làm cho hàng tông đồ thấy không những không có gì mâu thuẫn giữa sinh hoạt mục vụ và lao động sản xuất, mà một nếp sống hòa hợp được hai sinh hoạt đó còn làm sáng giá thêm Tin Mừng mà chúng ta rao giảng. Riêng với các tín hữu, lời khuyên lao động để có nếp sống xã hội trật tự tưởng không phải là không có giá trị hiện đại. Chúng ta cứ suy nghĩ và sẽ thấy quả thật hăng hái lao động sản xuất cũng là chuẩn bị Ngày Chúa trở lại, cũng là ngày biến đổi cả thế giới và vũ trụ này.
Thánh lễ nào cũng nhắc đến thời kỳ cánh chung và thúc giục chúng ta sẵn sàng và chuẩn bị cho thời kỳ ấy. Và gương mẫu cao cả mà thánh lễ nêu lên để chúng ta bắt chước, không phải là thánh Phaolô, nhưng là chính Ðức Giêsu trong mầu nhiệm cứu thế. Người thật là Ngày của Thiên Chúa. Người đã đến để diệt tội và cứu sống. Người thi hành sự phân xử của Thiên Chúa, khi chính Người đã sống lao động, rao giảng chân lý, chịu khổ hình thập giá và sống lại. Nếp sống của Người thúc đẩy chúng ta bắt chước để cuộc đời của chúng ta cũng thể hiện Ngày của Chúa và chuẩn bị Ngày Chúa Kitô trở lại đem thế giới và vũ trụ này vào trong hạnh phúc vinh quang muôn đời.


Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT XXXII-TN C


LỜI CHÚA: Lc 20, 27. 34-38
Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người. Chúa Giêsu trả lời họ rằng : “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa : vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa : vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa”.

Suy Niệm:
Ðức Giêsu mạc khải về vấn đề kẻ chết sống lại và cách thức cuộc sống đời sau. Ngài cho thấy cuộc sống ấy không còn giống như ở đời này. Không còn bị lệ thuộc vào không gian và thời gian. Không bị ràng buộc vào những quyến rũ như ở trần gian. Trái lại, cuộc sống của người công chính khi phục sinh sẽ được thần thiêng hóa như đời sống của các Thiên Thần, của Thiên Chúa.
Muốn được sống sự sống ấy trong ngày sau hết, mỗi Kitô hữu cần phải chuẩn bị và sống đời sống ấy ngay từ đời này. Bằng cách sống theo giáo huấn và tinh thần của Ðức Giêsu, thực thi công bình bác ái và không theo những cám dỗ của thế gian.

Cầu Nguyện: 
Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin sự sống lại và sự sống đời sau. Xin cho chúng con sống niềm tin bằng chính đời sống ‘tốt đạo đẹp đời’ của chúng con. Tất cả những công việc, hành động, lời nói, suy nghĩ của chúng con đều quy hướng về mục đích cuối cùng ấy. Như thế, chúng con sẽ được Chúa ban thưởng sự sống vĩnh cửu. Amen


Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN C

LỜI CHÚA : Lc 19, 1-10
Khi ấy, Chúa Giêsu vào Giêricô và đi ngang qua thành, thì kìa, có một người tên là Giakêu, ông thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có. Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào, nhưng không thể được, vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó.
Khi vừa đến nơi, Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng : “Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Ông vội vàng trụt xuống và vui vẻ đón tiếp Người. Mọi người thấy vậy, liền lẩm bẩm rằng : “Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi”.
Ông Giakêu đứng lên thưa cùng Chúa rằng : “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn”. Chúa Giêsu bảo ông ấy rằng : “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất”.
Suy Niệm:
Câu chuyện Ðức Giêsu hoán cải người thu thuế làm nổi bật vai trò của Người: Người đến tìm và cứu chữa những gì đã hư mất. Chính Ðức Giêsu luôn đi bước trước, chỉ cần chúng ta biết mở lòng đón nhận Chúa. Như trong bài Tin Mừng, ông Giakêu đã tìm mọi cách để xem cho biết Chúa là ai. Và sau khi được Ðức Giêsu trao ánh mắt thân thương, được đối thoại và được Ðức Giêsu thăm viếng, ông đã biến đổi hoàn toàn. Ông đã sẵn sàng đền bù những của cải bất công và thực thi lòng quảng đại phi thường.
Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, chính vì gặp được Ngài mà cuộc đời của người thu thuế, ông Giakêu, đã được biến đổi. Xin cho chúng con biết tìm kiếm Chúa mỗi ngày và mở lòng tiếp rước Chúa qua bí tích Thánh Thể, qua Lời Chúa. Ðể nhờ sức mạnh và ân sủng của Chúa, chúng con cũng được đổi mới, từ bỏ những việc làm bất chính tội lỗi, mà trở nên xứng đáng với ơn cứu độ Chúa ban. Amen.


Lượt xem:

Free Web Site Counter

Người đang theo dõi blog này

Powered By Blogger