Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Một thoáng suy tư trước thềm ĐH Giới Trẻ: Làm thế nào để chinh phục được tầng lớp trẻ?



Làm thế nào để chinh phục được tầng lớp trẻ?

Nhiều bậc cha mẹ Công Giáo còn sống gắn bó với đức tin đã không tránh khỏi nỗi khổ tâm và sự dằn vặt khi thấy con cái họ quá sa sút và nguội lạnh trong đời sống đức tin: bê trễ trong việc kinh nguyện, trong việc lãnh nhận các Bí tích và lơ là trong việc xem lễ các ngày Chúa Nhật. Nhiều người đã khắc khoải tự hỏi: Tôi còn có thể làm được gì để giúp các thế hệ trẻ tìm gặp được đức tin? Nhiều bậc cha mẹ Công Giáo thất vọng, vì thấy: 

• Càng ngày càng thiếu các hội đoàn dành cho thanh thiếu niên trong xứ đạo, hay có nhưng thiếu tổ chức, chỉ sinh hoạt rời rạc, cầm chừng và thiếu phương pháp sư phạm trong việc truyền đạt các vấn đề tôn giáo cho thanh thiếu niên. 
• Tại các nước Âu-Mỹ trong nhà thờ hầu như hoàn toàn thiếu bóng dáng thanh thiếu niên nam nữ; còn ở Việt Nam thì một số không nhỏ các thanh thiếu niên lại thường chỉ giữ „đạo cửa,“ „đạo thềm“ hay „đạo gốc“ như người ta thường nói, tức vì hoàn cảnh gia đình và xã hội gây áp lực, họ cũng cố gắng tới nhà thờ nhưng lại chỉ đứng thoải mái ở cửa hay ở ngoài thềm nhà thờ nhìn vào, hoặc ngồi chụm ba chụm bảy ở các gốc cây trong khuôn viên nhà thờ, để vừa xem lễ vừa nhìn quanh quất hay vừa tán chuyện với nhau. 

Ở đây, tác giả bài viết xin được thành tâm góp ý kiến với các bậc cha mẹ, các bậc ông bà nội ngoại, các vị Linh hướng, các giáo lý viên rằng, xin quý vị hãy luôn bình tĩnh, kiên trì và đừng buông xuôi. Chúng ta luôn có đủ lý do để hy vọng, để lạc quan, nếu chúng ta còn nhìn thấy được các „dấu chỉ thời gian“ ấy và nhận ra được ý nghĩa của chúng; nhất là nếu chính chúng ta còn có tâm huyết muốn làm được điều gì đó để giúp cho các thế hệ trẻ ngày nay tìm gặp được Thiên Chúa. 


Vâng, theo khả năng và điều kiện của mình, chúng ta hãy nỗ lực giúp đỡ các thế hệ trẻ tìm gặp được Thiên Chúa. Nhưng trước hết không phải bằng lời nói, nhưng là bằng cuộc sống thực tiễn hằng ngày của mình, một cuộc sống chứng minh cho thấy chúng ta đã thực sự gặp gỡ được Thiên Chúa, vì „một việc làm bằng ngàn lời nói.“ Và tất nhiên, ở đây chúng ta cũng phải chân thành tự hỏi là trước tình trạng sống đạo sa sút và lơ là của tầng lớp trẻ hôm nay, những người trưởng thành chúng ta có được phép chỉ đổ lỗi cho họ hay cho hoàn cảnh xã hội thế này thế kia, còn chúng ta lại hoàn toàn phủi tay vô tội không? 

Đàng khác, người ta thất vọng về tình trạng sống đạo xuống dốc của tầng lớp trẻ ngày nay, vì người ta chưa đủ thực tế và vì người ta còn quá hoài cổ, còn quá gắn bó với cách sống và cách thực hành đức tin „thơ mộng“ của thời xa xưa. Nói cách khác: các bậc cao niên trong gia đình cũng như trong giáo xứ vẫn còn giữ mãi hình ảnh sống đạo xa xưa của mình, khi mà việc đọc kinh sáng tối trong gia đình, việc mỗi buổi sáng đi xem lễ, việc cùng nhau lần hạt Mân Côi mỗi tối trong gia đình không những 50 mà có khi còn cả 100 hay 150 kinh Kính Mừng nữa, v.v… là một điều bình thường, nếu không muốn nói là một điều bó buộc đối với từng thành viên của gia đình. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, đó là vào thời mà „con trâu đi trước cái cày theo sau“, vào thời mà nghề nông là chủ yếu và cuộc sống còn yên bình ẩn khuất sau lũy tre làng, và nhất là vào thời mà tôn giáo còn giữ địa vị độc tôn cũng như nhà thờ xứ là điểm gặp gỡ duy nhất và vị Linh Mục quản xứ còn là „thầy cả“ tuyệt đối, nghĩa là một mình ngài phải kiêm nhiệm tất cả: vừa dạy đạo vừa dạy đời vừa dạy văn hóa, v.v... Nhưng xã hội ngày nay đã hoàn toàn thay đổi, đã mở cửa, đã trở nên đa nguyên, đã hay đang kỹ nghệ hóa. Tôn giáo không còn giữ địa vị độc tôn nữa, nhưng trở thành một trong các đơn vị trong đời sống xã hội và bị cạnh tranh khốc liệt, nếu không muốn nói là bị chèn ép, bị chống đối và bị bắt bớ, và phải quyết liệt tranh đấu cho sự sống còn của mình giữa một xã hội bị tục hóa, duy vật và vô thần. Vì thế, cuộc sống con người nói chung và cuộc sống gia đình cũng như cuộc sống đạo hay các sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ và của từng tín hữu nói riêng cũng phải thay đổi theo. Không ai có thể ngăn cản được dòng chảy của thời gian. Điều đó cũng muốn nói rằng, kiểu cách sống đạo an nhàn bình lặng thủa xa xưa sẽ không thể tồn tại và không bao giờ tái diễn nữa. 

Bởi vậy, thay vì ngồi hoài cổ và thất vọng so sánh với một quá khứ không bao giờ quay trở lại, chúng ta hãy can đảm nhìn thẳng vào thực tế và chấp nhận nó, để hướng dẫn nó đi đúng theo tinh thần của Phúc Âm và của Giáo Hội – hay nói theo ngôn ngữ ngày nay: tái Phúc Âm hóa – trong điều kiện sống hiện nay và bây giờ. Nói cách khác, chúng ta hãy nỗ lực chinh phục các thế hệ trẻ ngày nay cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội với những điều kiện và khả năng sẵn có của mình, và dĩ nhiên trên hết với đời sống đạo gương mẫu của mình đúng theo tinh thần công bằng và bác ái của Tin Mừng. 

Đó là một điều hoàn toàn khả thi, bởi vì Thiên Chúa đã dựng nên mỗi người với một linh hồn thiêng liêng bất tử, luôn hướng về chân thiện mỹ tuyệt đối như mục đích tối hậu. Vâng, chúng ta là người, vì nội tâm chúng ta là cả một thế giới bao la huyền bí hầu như vô tận. Người ta có thể nói được rằng mỗi người trong chúng ta mang trong mình một sự trống rỗng tinh thần vô tận và luôn khao khát được lấp đầy bằng chân thiện mỹ tuyệt đối, bằng sự hạnh phúc vô biên. Đó chính là Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa Toàn Năng. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể lấp đầy được khoảng không vô tận này của linh hồn con người bằng ân sủng và bằng Thánh Linh của Người. Hay nói cách khác, chính Thiên Chúa mới có thể làm thỏa mãn được nỗi khao khát tìm kiếm chân lý tối hậu và hạnh phúc viên mãn của linh hồn. 

Chính vì thế, một khi các tầng lớp thanh thiếu niên đã qua thời bồng bột, nông nổi và hiếu thắng để bước vào tuổi trưởng thành chín chắn, họ sẽ cảm nhận được một cách sâu xa sự khao khát tìm kiếm những giá trị cao cả, trọn vẹn, sự hạnh phúc và niềm vui vô tận. Họ sẽ bị thúc đẩy bởi một sức mạnh vô song tiềm ẩn trong nội tâm mong tìm đạt tới một cuộc sống sung mãn. Rất có thể tất cả được khởi đầu từ cuộc sống vật chất, tiếp đến là cuộc sống tinh thần và sau cùng sẽ là cuộc sống siêu nhiên. Nhưng điều quyết định ở đây là nếu trong giai đoạn „chuyển tiếp“ ấy của tầng lớp trẻ mà chúng ta, những người có trách nhiệm đối với họ, không dẫn đưa được họ đến với Thiên Chúa, thì họ sẽ bị những sức mạnh và những thế lực đen tối khác quyến rũ và lôi cuốn bằng những lời đường mật nhưng giả trá sai lạc: „Các bạn chỉ có thể tìm gặp được hạnh phúc ở đời này, hạnh phúc to lớn đang nằm trong tầm tay các bạn!“ Từ đó chúng sẽ lèo lái tầng lớp trẻ bước vào vòng nô lệ của các thú vui đầy nguy hiểm, ma túy, tứ đổ tường, và sau cùng kết thúc trong mất mát thảm hại và đau đớn, cho đương sự, cho gia đình và cho toàn xã hội cũng như cho Giáo Hội. 

Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã bắt đầu phát triển nhiều trào lưu tích cực của tầng lớp thanh thiếu niên nam nữ trong Giáo Hội mà người ta ít để ý tới. Dĩ nhiên, ở nhiều nơi trong Giáo Hội, nhất là tại các nước Âu Mỹ, các đoàn thể thanh thiếu niên còn thưa thớt trong các sinh hoạt giáo xứ. Nhưng người ta không nên lấy đó làm lạ, vì chính cuộc sống đạo của nhiều tín hữu trưởng thành và của nhiều gia đình không còn được đặt nặng nữa, nếu không muốn nói là đã bị sao nhãng. Nhưng đồng thời một luồng gió mới đang được thổi vào Giáo Hội: Tại nhiều giáo xứ các hội đoàn thanh niên thiếu nữ đang được tái tổ chức lại, hàng trăm hàng ngàn bạn trẻ đã hào hứng tham dự rất đông đảo và sốt sắng trong các cuộc hành hương quốc tế, nhất là hàng triệu thanh niên nam nữ đã quây quần bên Đức Giáo Hoàng trong các cuộc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới; tại nhiều Giáo phận trên thế giới còn tổ chức hằng năm Đại Hội Giới Trẻ với hàng ngàn người tham dự và trong những dịp này có hàng trăm bạn trẻ đứng sắp hàng trước các Tòa Cáo Giải. 

Tất cả những sự kiện ấy muốn nói lên rằng không ai được phép thất vọng hay bi quan về các tầng lớp các người trẻ hay về Giáo Hội. Đức Kitô vẫn luôn trung tín với lời hứa của Người: „Thầy ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế.“(Mt 28,20b) Chúa Thánh Thần vẫn không ngừng tác động trong Giáo Hội, nhưng rất có thể là Người tác động theo cách thức của Người, chứ không nhất thiết phải theo cách thức của chúng ta hay trùng hợp với cách thức mà chúng ta dự đoán và chờ đợi. Một thực tại hiển nhiên khác mà chúng ta cũng không được phép phủ nhận, là những tâm hồn trẻ ngày nay có một sự cảm nhận về Thiên Chúa mang tính cách tư riêng của mình, chứ không nhất thiết phải trùng hợp với quan niệm của cha mẹ hay của các bậc trưởng thành khác. Họ cũng không muốn một Giáo Hội chỉ nhấn mạnh đến các hình thức phô trương rườm rà bên ngoài và đòi hỏi họ phải thế này thế nọ, nhưng là một Giáo Hội đi vào chiều sâu của đức tin và nhằm đạt tới điều trọng yếu nhất của cuộc sống: Thiên Chúa! 

Vâng, tuổi trẻ ngày hôm nay muốn được nghe Thiên Chúa, muốn được gặp gỡ Thiên Chúa và muốn thực sự cảm nghiệm được Thiên Chúa một cách sâu xa tận đáy lòng mình. Và Thiên Chúa luôn yêu thương tất cả những tâm hồn trẻ ấy. Người sẽ làm tất cả để lôi kéo họ ngay trong thời đại „vàng thau lẫn lộn“ hôm nay đến với Người, đến ẩn náu trong Thánh Tâm luôn bùng cháy lửa yêu thương của Người. Nhưng để hiện thực điều đó, Thiên Chúa cần sự góp tay của tất cả chúng ta. Ở đây, xin được đề nghị năm cách thức cụ thể. 

1. Kiến tạo những „nơi chốn“ để cảm nhận được Thiên Chúa 

Đối với nhiều người Thiên Chúa là một điều gì đó „cụ thể bên ngoài“, hay chỉ là „một lời nói“ hoặc „một tư tưởng.“ Thiên Chúa là một thực tại siêu phàm. Nói cách khác, Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Đấng Tuyệt Đối, nhưng Người lại muốn hành động cụ thể và trực tiếp trong vũ trụ cũng như trong cuộc sống con người. Các tầng lớp trẻ rất thông thoáng đối với những tình cảm và những cảm xúc; tâm hồn họ rất nhạy bén đối với những cảm nhận thiêng liêng. Vì thế, chúng ta hãy kiến tạo nên „những nơi chốn“ thuận lợi để Thiên Chúa có thể gần gũi được các người trẻ và tỏ mình ra cho họ cũng như để những người trẻ có thể tâm sự với Người. Vâng, tất cả chúng ta đều chỉ là cộng tác viên trần thế của Thiên Chúa, là những dụng cụ trong tay Người, còn tác nhân chính trong tâm hồn con người luôn là chính Thiên Chúa qua Thần Linh của Người. Hiểu rõ được chân lý này, nên thánh Phaolô đã viết. „Vậy A-pô-lô là gì? Phao-lô là gì? Đó là những tôi tớ đã giúp cho anh em có được đức tin, mỗi người đã làm theo khả năng Chúa ban. Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, còn Thiên Chúa mới là Đấng làm cho lớn lên.“(1Cr 3,5-6) 

Trong thực tế, nhiều thanh thiếu niên không biết phải cầu nguyện thế nào. Họ cảm thấy cầu nguyện theo kiểu truyền thống, tức việc đọc thuộc lòng các Kinh đã được dọn sẵn,(1) là quá lạt lẽo và nhàm chán, vì mang tính cách một chiều, chứ không phải là một sự đối thoại với Thiên Chúa. Hiện tượng này hoàn toàn không phải là một điều quá xa lạ, và càng không phải là một điều tiêu cực; nó nằm trong tổng thể sự xung khắc về quan niệm sống giữa các thế hệ gia đình cũng như trong xã hội: Mỗi thế hệ già/trẻ có sự hiểu biết riêng, có quan niệm riêng và vì thế cũng có cách sống và thực hành riêng, kể cả trong cuộc sống đức tin, trong việc cầu nguyện. Tuổi già thì có đầy đủ kinh nghiệm sống, tuổi trẻ lại dư tràn óc sáng tạo. Chúng ta chỉ cần chấp nhận, thích ứng và hoàn thiện nó. 

Một cách cụ thể, các tầng lớp thanh thiếu niên cần có những giờ cầu nguyện riêng cho họ, trong đó người ta sử dụng cách thức và ngôn ngữ thích hợp với họ. Còn những giờ cầu nguyện chung cho mọi thành phần thì luôn nên đơn giản, ngắn gọn, nhưng thành tâm và đầy đủ. Nói cách khác, để thu hút được các tâm hồn trẻ trong các Giờ Kinh, nên tránh cách cầu nguyện câu nệ vào việc ê-a dài dòng các Kinh, nhưng lại thiếu sự cầm trí, thiếu sự hiện diện của tâm trí trong lời kinh. Đây cũng là cách thức cầu nguyện đã bị Chúa khiển trách: „Dân này tôn thờ Ta bằng môi miệng, còn lòng trí chúng lại xa Ta.“(Mc 7,6b) Một giờ cầu nguyện đích thực phải là phương tiện hữu hiệu dẫn ta đến cùng Thiên Chúa, phải là những khoảnh khắc đẹp nhất để linh hồn và lòng trí ta được kết hiệp với Thiên Chúa. Chúng ta đừng quản ngại sự phức tạp và khó khăn, vì phải tạm gác lại cách cầu nguyện truyền thống quen thuộc, để cùng cầu nguyện với và theo cách thức của tầng lớp trẻ khi chúng ta cầu nguyện với họ. Chúng ta cần làm tất cả có thể, để chinh phục các tâm hồn trẻ về cho Chúa và cho Giáo Hội. Vì con cái chúng ta ngày hôm nay sẽ là cha mẹ của ngày mai, các người trẻ hôm nay sẽ là Giáo Hội của ngày mai. Vâng, chúng ta cần tổ chức việc cử hành Thánh Lễ và các giờ Phụng Vụ khác sao cho giới trẻ có thể tiếp cận được Thiên Chúa, và qua đó, Thiên Chúa có thể chạm tới được tâm hồn tầng lớp trẻ. 

Ngược lại, nếu chúng ta ngồi chờ đợi tất cả những gì đã từng được thực hành trong Giáo Hội nói chung và trong các giáo xứ hay trong các gia đình nói riêng cách đây 50, 40, 30 hay 20 năm về trước sẽ có ngày được khôi phục lại, thì chúng ta sẽ còn triền miên bị khổ tâm và thất vọng mãi, bởi vì chúng ta đã không dám hay không muốn nhìn nhận sự tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng muốn thổi ra sao và thổi khi nào là hoàn toàn tùy ý Người, chứ không một ai có thể ngăn cản hay lèo lái được.(Ga 3,8) Chúa Thánh Thần đã từng có mặt trong buổi sơ khai của Giáo Hội, khi các tín hữu tràn trề vui sướng và hạnh phúc với đức tin mới của mình, mặc dầu họ chỉ là một thiểu số bé nhỏ trong dân. Ngày nay Chúa Thánh Thần cũng đang tiếp tục tác động trong các tâm hồn, nhất là trong các tâm hồn tầng lớp trẻ để giúp họ tìm gặp được Thiên Chúa, mặc dầu số các bạn trẻ ấy vẫn còn là thiểu số bé nhỏ. Bởi vì, Nước Trời bao giờ cũng được bắt đầu một cách khiêm tốn, tựa như hạt cải nhỏ bé nhất trong các thứ hạt, nhưng một khi lớn lên thì cành lá của nó lại xum xuê tươi tốt, đủ chỗ cho mọi thứ chim trời đến làm tổ ấn náu.(x. Mt 13,31-32) 

Chúng ta cần chấp nhận là các tầng lớp trẻ thường thích trắc nghiệm về những cái mới lạ trên con đường đức tin, và chúng ta cũng vui mừng vì còn có những thanh thiếu niên muốn trắc nghiệm về đức tin như thế trong các xứ đạo. Điều quan trọng là chúng ta không nên phản đối, nhưng là hướng dẫn và giúp đỡ các trắc nghiệm ấy của tầng lớp trẻ đạt tới mục đích mong muốn, chứ không bị lạc đường. 

Nói tóm lại, các tầng lớp trẻ, các thanh thiếu niên nam nữ cần có những đoàn thể thích hợp cho họ và những địa điểm gặp gỡ nhất định để cùng nhau cầu nguyện. Nhất là họ cần sự nâng đỡ về mọi mặt của cha mẹ trong gia đình và của các vị có trách nhiệm trong giáo xứ, để họ không cảm thấy bị bỏ rơi, bị cô đơn lẻ loi. 

2. Chúng ta hãy cầu nguyện với tầng lớp trẻ 

Cầu nguyện là một sức mạnh có thể biến đổi được mọi sự. Nhưng điều quan trọng đầu tiên là các bậc cha mẹ, các vị có trách nhiệm trong giáo xứ phải có tâm huyết với tầng lớp trẻ, phải thực sự tìm mọi cách để dẫn đưa họ tới cùng Thiên Chúa. Trong các Lời Nguyện Giáo Dân khi dâng lễ bao giờ cũng cần có ý chỉ cầu nguyện cho sự phát triển và nảy nở đức tin nơi các thế hệ trẻ, trong gia đình cũng như trong giáo xứ. Nhưng điều hiệu nghiệm nhất là mỗi khi cả cộng đoàn giáo xứ cùng quỳ gối chầu Mình Thánh Chúa, hãy tha thiết kêu xin Chúa Giêsu Thánh Thể cho các thanh niên thiếu nữ và các em nhi đồng, Đấng đã phán: „Hãy để các con trẻ đến cùng Thầy“: Xin Người luôn đồng hành với các con cái chúng ta trong suốt cuộc sống và dẫn đưa c

Và dĩ nhiên, không những chúng ta cầu nguyện cho tầng lớp trẻ, cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhưng chúng ta cùng cầu nguyện với họ, đặc biệt trong các Thánh Lễ và các Giờ Kinh dành riêng cho họ. Những giờ cầu nguyện chung như thế, có thể được tổ chức theo cách thức của thanh thiếu niên, sẽ có tác động mạnh mẽ và mang lại nhiều hoa trái hữu ích trong tâm hồn các thanh thiếu niên, vì qua đó họ cảm nhận được rằng họ không hề bị bỏ rơi, nhưng được liên đới chặt chẽ trong cuộc sống gia đình và cuộc sống giáo xứ. Một sinh viên thuộc một trong các xứ đạo của tôi, đã hồi tâm trở lại với Thiên Chúa cách đây chưa lâu và nay muốn theo học thần học để trở thành Linh Mục, đã tâm sự: „Con đã nhiều năm sống như không có Thiên Chúa, nhưng bà nội con luôn lần hạt Mân Côi để cầu nguyện cho con. Có khi bà còn mời con lần hạt với bà nữa, và mặc dù lúc đó con không thích, nhưng vì nể bà và không muốn làm bà buồn, con cũng cố gắng lần hạt Mân Côi chung với bà. Nay bà đã qua đời. Chắc chắn trên Thiên Đàng bà nội con sẽ vô cùng sung sướng khi bà thấy Thiên Chúa nhân từ đã lôi kéo được con vào trong vòng tay yêu thương của Người.“ 

3. Chúng ta hãy hướng dẫn tầng lớp trẻ cầu nguyện 

Trong cuộc sống xã hội tân tiến ngày nay, có biết bao nhiêu điều tốt xấu lẫn lộn đang ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến tâm hồn non trẻ của các thanh thiếu niên: Từ Ti-vi cho đến Internet, từ phim ảnh, bạn bè cho đến những gương lành gương xấu do những người trưởng thành chúng ta làm trước mắt chúng. Tất cả đã đưa đẩy tầng lớp trẻ bất đắc dĩ phải đứng trước „ngã ba đường“ sự lựa chọn. 

Nếu chúng ta muốn cho các tầng lớp người trẻ tìm gặp được Thiên Chúa, và như thế đạt tới được hạnh phúc đích thực của đời họ, thì chúng ta cần phải liên kết họ lại với Người qua các gương lành, qua cuộc sống phù hợp với tinh thần bác ái và công bằng của Phúc Âm. Dĩ nhiên, đức tin là một ơn lành của Thiên Chúa Chúa, là sự tác động của Chúa Thánh Thần trong các tâm hồn, chứ không phải do công trạng của chúng ta, còn chúng ta chỉ là những nhân viên, là những dụng cụ trong tay Thiên Chúa mà thôi. Thiên Chúa là một thực tại, Người luôn hiện diện trong mọi nơi và trong mỗi người chúng ta, Người luôn sẵn sàng tuôn đổ tràn đầy mọi ơn lành của Người xuống trên chúng ta. Điều đó muốn nói rằng, chúng ta cần phải nhìn thấy được nơi các trẻ nhỏ và các thanh thiếu niên một sự liên kết khả dĩ hình thành giữa Thiên Chúa và tâm hồn họ. Vì thế, chúng ta hãy tìm cách dẫn đưa các thế hệ trẻ tiếp cận được với Thiên Chúa, hay nói cách khác, chúng ta hãy dạy cho các thế hệ trẻ biết cầu nguyện. 

Nhưng trước hết, chúng ta cũng dạy cho các thế hệ trẻ xác tín được rằng cầu nguyện không nhất thiết là phải đọc thuộc lòng các Kinh Nguyện đã được dọn sẵn mà nhiều khi họ cũng chẳng hiểu hết ý nghĩa các Kinh ấy; và nhất là cầu nguyện không phải là một bổn phận nặng nề nhàm chán, nhưng là một hồng ân của Thiên Chúa, là nguồn suối tắm mát và thanh tẩy tâm hồn con người, nơi đó con người luôn có thể múc kín cho cuộc sống của mình sự trợ lực và sức mạnh, niềm vui và sự an ủi cần thiết. 

Trong điểm này, với tư cách là một Linh Mục công tác Mục Vụ trong các giáo xứ người Đức từ gần bốn thập niên nay và từ hơn một thập niên qua còn kèm thêm công tác cho bà con Việt Kiều Công Giáo cũng tại quốc gia Tây Âu này, tôi đã tích lũy được cho mình những kinh nghiệm nhất định trong việc lần hạt Mân Côi và có thể khẳng định được rằng Kinh Mân Côi không chỉ là một Kinh Nguyện đơn sơ, dễ đọc, dễ hiểu, nhưng còn là nguồn sức mạnh phi thường, có thể giúp chúng ta trang trải được mọi thứ „nợ đời.“ Vâng, Kinh Mân Côi hội đủ mọi công dụng thiêng liêng và tinh thần: Nó nối kết ta lại với Chúa và với mọi anh chị em đồng loại, hàn gắn mọi va chạm và sứt mẻ trong cuộc sống hằng ngày, sức mạnh để kiến tạo hòa bình và là niềm vui và niềm an ủi ngọt ngào cho những tâm hồn biết yêu mến Mẹ Maria. Trong các lần hiện ra với con cái loài người, đặc biệt ở Lộ Đức và ở Fatima, Mẹ Thiên Chúa đều đòi hỏi mọi tín hữu Công Giáo, kể cả những trẻ nhỏ mới lên sáu lên mười, còn trong trắng thơ ngây – như Bernadette ở Lộ Đức hay như Gia-xin-ta, Phanxicô và Lucia ở Fatima – cần phải siêng năng lần hạt Mân côi mỗi ngày. Bởi vì, Kinh Mân Côi là một Kinh của trẻ thơ và của các thanh niên thiếu nữ. Dĩ nhiên, người ta không nên chờ đợi các con trẻ và tầng lớp thanh thiếu niên sẽ lập tức đọc trọn toàn bộ tràng hạt Mân Côi trong một Giờ Kinh. Điều đó không cần thiết và nhất là phản sư phạm trong việc dạy cho tầng lớp trẻ cầu nguyện. Nhưng mỗi lần có thể chỉ đọc một chục hay hai chục Kinh Kính Mừng là đủ. 

Ở đây, tôi xin được phép kể lại kinh nghiệm sống động trong việc lần hạt Mân Côi tại Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam chúng tôi thuộc Giáo phận Trier/Đức quốc: Từ trên dưới 30 năm nay, cộng đoàn người Công Giáo Việt Nam tại Giáo phận này luôn thực hành một truyền thống đạo đức tốt, đó là từ tháng năm, Tháng Hoa, cho tới tháng mười, Tháng Mân Côi, các gia đình trong cộng đoàn tuần tự rước tượng Đức Mẹ Fatima về trong gia đình và mời cả cộng đoàn – nhiều gia đình còn mời cả các bà con bên lương nữa – về tôn vương Đức Mẹ cùng gia đình vào ngày cuối tuần, hoặc thứ bảy hoặc Chúa Nhật. Trong Giờ Kinh gia đình ấy: 
• Trước hết chủ nhà nêu lên ý xin cầu nguyện của gia đình – hoặc xin ơn bình an cho gia đình hoặc xin cầu nguyện cho linh hôn của một người quá cố trong gia đình, v.v... 
• Tiếp đến vị Cộng Đoàn Trưởng xướng các Kinh sáng tối quen thuộc. 
• Đọc bài Phúc Âm của ngày Chúa Nhật hôm ấy. 
• Cha Tuyên Úy chia sẻ lời Chúa dựa theo bài Phúc Âm. 
• Lần một chục hạt Mân Côi. 
• Đọc bản kinh „Đền Tạ Đức Mẹ Tại Các Gia Đình“ và các bài Thánh Ca về Đức Mẹ.
• Và kết thúc Giờ Kinh bằng phép lành của cha Tuyên Úy. 

Để tỏ lòng biết ơn bà con trong cộng đoàn đã đến hợp ý hợp lời cùng cầu nguyện với gia đình cũng như để nối chặt thêm tình liên đới và tình thân ái giữa các thành phần trong cộng đoàn, gia đình liên hệ thường mời các bà con hiện diện ở lại dùng trà, bánh ngọt hay bữa cơm thanh đạm với gia đình mình. 

Cách thức cầu nguyện chung này đã mang lại nhiều hiệu quả tinh thần rõ rệt trong và cho cộng đoàn. Trước hết dù hoàn cảnh cư trú xa biệt nhau,(2) nhưng mọi người vẫn hăng hái và vui vẻ tham gia phong trào Tôn Vương Đức Mẹ này từ hàng thập niên qua. Chính nhờ có các Giờ Kinh tôn vương Đức Mẹ này tại các gia đình trong cộng đoàn, bà con Công Giáo gặp gỡ nhau thường xuyên hơn, và qua đó họ hiểu nhau hơn, thông tin cho nhau hoàn cảnh sống của mỗi người hay của mỗi gia đình dễ dàng hơn, giúp đỡ nhau mau chóng hơn. Nói chung là bà con sống đoàn kết và gắn bó với nhau hơn. Còn trong trường hợp có sự hiểu lầm giữa người này người nọ – đó là chuyện thường tình – thì họ cũng dễ dàng vượt qua và thông cảm cho nhau hơn.

Đó là một vài hiệu quả tích cực thực tiễn trong muôn vàn ích lợi tinh thần khác do Kinh Mân Côi mang lại và nhất là qua gương lần hạt Mân Côi sốt sắng này sẽ thức tỉnh được nơi tầng lớp trẻ lòng ham thích cầu nguyện. 

Nói tóm lại, chúng ta cần dạy cho tầng lớp thanh thiếu niên biết cầu nguyện và ham thích cầu nguyện. Dĩ nhiên, luôn phải đơn sơ, tươi vui và ngắn gọn; tuyệt đối không được ép buộc hay áp đặt, nhưng chỉ thuyết phục một cách đầy thân thiện và yêu thương. Mọi sự sẽ thành công, nếu các tầng lớp thanh thiếu niên nhận thấy chính chúng ta cũng thực sự cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng, chứ không chỉ dạy lý thuyết mà thôi. 

4. Trước các tầng lớp trẻ, chúng ta hãy nói tốt về Giáo Hội 

Làm sao chúng ta có thể giúp cho các trẻ nhỏ và nhất là tầng lớp thanh thiếu niên nam nữ yêu mến Giáo Hội và ham chuộng việc Kinh Nguyện, nếu khi đứng trước mặt họ chúng ta hay phê bình, chỉ trích và phàn nàn Giáo Hội, Ban chấp hành xứ, Linh Mục quản xứ, các Đức Giám Mục và Đức Giáo Hoàng thế này thế nọ? 

Để có thể chinh phục được tầng lớp trẻ cho Chúa và cho Giáo Hội, thì chính những người trưởng thành chúng ta phải có lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội trước đã, vì không ai có thể cho người khác điều mình không có! 

Và bước đầu tiên là tránh phê bình chỉ trích hay phàn nàn Giáo Hội trước mặt các thanh thiếu niên, ở trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội. Người Việt Nam chúng ta đã chẳng thường nói: „Tốt đẹp thì phơi ra, xấu xa thì đậy lại!“ Dĩ nhiên điều đó không muốn nói là chúng ta phải sống giả dối và không dám nhìn vào sự thật. Không. Là Kitô hữu, chúng ta phải luôn nói và hành động theo đúng sự thật. Nhưng có nhiều sự thật người ta không được nói ra; lại có những sự thật chỉ được nói ra cho một số người nhất định nào đó và phải nói vào một thời giờ và một nơi chốn thích hợp nhất định nào đó. Nói cách khác, một sự thật chỉ cần phải được nói ra khi nó mang lại lợi ích cho người nghe; còn khi nói ra mà lợi bất cập hại thì cần phải giữ kín. Từ kinh nghiệm sống này, một câu phương ngôn của người Pháp đã rất chí lý khi nói. „Il n´est pas bon, toujours de parler la vérité“: Khi nào cũng nói ra sự thật là một điều không tốt! 

Trước tầng lớp trẻ, thay vì phê bình chỉ trích thì chúng ta hãy nói tốt về Giáo Hội. Vì tuy trong Giáo Hội cũng đã từng xảy ra hay còn tồn đọng những tính chất nhân loại, nhưng đó chỉ là những yếu đuối của một thiểu số thành phần rất nhỏ nào đó. Nếu chúng ta nhìn vào Giáo Hội một cách khách quan và nhất là với thiện ý và tình yêu chân thành, thì chúng ta sẽ khám phá được sự thánh thiện cao cả và vẻ đáng yêu tuyệt vời của Giáo Hội, vì Giáo Hội là Hội Thánh, là thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô. Điều đó cũng có nghĩa là có lẽ những người trưởng thành chúng ta cần phải nhìn nhận lại quan niệm và thái độ của mình đối với Mẹ Giáo Hội. Một câu phương ngôn cũng nói: „Một giọt mật ong ngọt ngào thì mang lại nhiều lợi ích hơn là một thùng giấm chua.“ 

Vâng, nếu chúng ta muốn chinh phục được tầng lớp trẻ cho Giáo Hội, chúng ta hãy nói tốt về Giáo Hội. Và đó là sự thật, vì tự bản chất của mình là Hội Thánh Đức Kitô, trong Giáo Hội có muôn vàn „mật ong“ hơn là „giấm chua,“ trong Giáo Hội có nhiều điều tốt lành thánh thiện hơn là sự lỗi lầm và thiếu sót. Vì thế, nếu chúng ta dễ bị định kiến về một vài „giọt giấm“ mà bỏ quên cả một „thùng mật ong“ ngọt ngào trong cuộc sống Giáo Hội, thì định kiến ấy cần phải được điều chỉnh lại. 

Hơn nữa, với sứ mệnh Kitô giáo thánh thiêng cao cả của mình, chúng ta không bao giờ có lý do để sống thất vọng hay bi quan giữa cuộc sống xã hội đầy phức tạp này; nếu không, muối chúng ta sẽ không còn đủ mặn để ướp được tầng lớp trẻ và đèn chúng ta sẽ không còn đủ sáng để soi chiếu cho họ tìm ra được con đường dẫn tới sự thật đích thực của cuộc sống. 

5. Chúng ta hãy hành động như những Kitô hữu 

Sau cùng, chúng ta không nên quên rằng, không chỉ cầu nguyện, không chỉ suy tư và nói tốt, nhưng còn phải hành động tốt nữa. Phúc Âm là một lời mời gọi sống một cuộc sống đức ái và sự hy sinh. Các con trẻ và các thanh thiếu niên không chỉ nghe mà còn nhìn vào hành động của những người trưởng thành chúng ta nữa. Họ sẽ quan sát rất kỹ, để xem liệu chúng ta chỉ trình bày và giới thiệu tốt về đức tin, về các giáo lý của Giáo Hội một cách lý thuyết suông hay chúng ta còn có cả cuộc sống và hành động kèm theo hoàn toàn phù hợp với những giáo lý ấy nữa. Những lời nói hay chỉ là những ngôn từ trống rỗng và bất khả tín, nếu chúng không được xuất phát từ sự xác tín và không có việc làm phù hợp kèm theo. Ở đây, chúng ta có thể trích dẫn gương sống đạo của chân phước Mẹ Têrêxa Can-cút-ta: Mẹ yêu thương những người nghèo, những người bị bỏ rơi không chỉ bằng những lời an ủi suông, nhưng bằng cả cuộc đời hoàn toàn dấn thân cho họ, thăm viếng, săn sóc họ bằng đôi tay gầy yếu của Mẹ. Và vì thế, Mẹ Têrêxa đã chinh phục được cả hàng triệu tâm hồn về Cho Chúa. 

Tất cả những gì chúng ta làm cho tầng lớp thanh thiếu niên, không nhất thiết đòi hỏi phải hoàn hảo, vì điều chính yếu là chúng ta làm với tình yêu và lòng chân thành. Vâng, điều có thể chạm tới được tâm hồn thanh thiếu niên không nhất thiết là chúng ta làm một điều gì đó cho họ, nhưng là cách thức và thái độ chúng ta làm điều ấy. 

Vậy, chúng ta hãy loại bỏ những ý tưởng hời hợt, trống rỗng, vì với tư cách là Giáo Hội, chúng ta có sứ mệnh mang Chúa đến cho các tâm hồn bằng chính cả con người cụ thể của mình. Chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sức mạnh, lòng can đảm để trở thành những dụng cụ hữu hiệu trong tay Người, hầu qua chúng ta Người sẽ chinh phục được nhiều tầng lớp trẻ hơn
_____________________

Chú thích:
1. Các Kinh trong kho tàng Kinh Nguyện của Giáo Hội luôn mang những nội dung sâu sắc và cao cả, giúp cho các tâm hồn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, nhưng trong các buổi cầu nguyện riêng cho tầng lớp thanh thiếu niên, người ta nên sử dụng lối cầu nguyện khác, như cách cầu nguyện trực ngôn và tự phát, v.v… sẽ hiệu quả hơn.
2. Bà con Việt kiều ở Đức thường không thể sống tập trung lại một chỗ bên cạnh nhau, nhưng vì lý do nghề nghiệp và nhà cửa, họ phải ở xa nhau, mỗi gia đình một chỗ, cách xa nhau có khi lên tới 100, 50, 40 hay 20 cây số.

Lm. Nguyễn Hữu Thy
Nguồn tin: vietcatholic.net

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009

Thảo nguyên trong tôi (Van vi)


Tôi tưởng tượng mãi rồi thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang đứng trên một đỉnh núi cao vời vợi. Gió thổi vào vai, tràn xuống tay tôi, mềm nhẹ tựa nắng. Xung quanh tôi, hoa đua nhau nở. Có bông hoa trắng muốt, e lệ chúm chím, lại có bông hoa đỏ rực như sức sống mạnh mẽ của tuổi hai mươi. Tôi nhón bước trên thảm cỏ xanh mát, điểm vài giọt sương trong vắt như pha lê.
Tôi dạo chơi trên thảo nguyên tươi đẹp. Tôi cảm tưởng như mỗi hơi thở, cử động của mình đều nhuốm một thứ gì đó rất đỗi quen thuộc nhưng không tài nào nhớ ra được.
Vui sướng quá đỗi, tôi chạy đùa với nắng, với cỏ cây, hoa bướm rồi bất ngờ... trượt chân... rơi xuống vực. Tôi thấy người mình hẫng hụt rồi la hét om sòm và... tỉnh dậy. Mồ hôi ướt đầm, tôi rúc vào lòng mẹ, kể cho mẹ nghe giấc mơ vừa mới trải qua. Mẹ cười vui. Tôi chợt hiểu: “Thảo nguyên rộng lớn và tươi đẹp nhất chính là tấm lòng của mẹ”.
Van vi

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2009

Dụ ngôn những tá điền sát nhân (Lm. Phêrô Mai Tính)

Thứ Sáu tuần 2 MCMt 21,33-43.45-46 :

Đề tài 1 : Giải thích dụ ngôn1. Giải thích từ ngữ :- Vườn nho hay cây nho chỉ dân Do Thái. Trong Tân Ước, CG tự ví Ngài là cây nho (Ga 15,1).- Trong bài PÂ hôm nay, ông chủ là TC. Vườn nho là các linh hồn, là Giáo Hội. Những người làm vườn nho là dân Do Thái, tư tế, biệt phái. Các đầy tớ đi thu hoa lợi là các tổ phụ, các tiên tri. Con trai duy nhất là CG.2. Tìm hiểu ý nghĩa :- Ông chủ xây hàng rào, xây tháp canh ý chỉ TC chăm sóc mọi điều.- Các đầy tớ bị bạc đãi 3 đợt ý chỉ là người ác thì càng gia tăng sự ác.Bài học : Hãy biết nghe để trở nên tốt.
Đề tài 2 : Tình Chúa thương1. Chúa Cha gởi CG đến xét theo toàn cảnh của bài PÂ hôm nay là việc làm liều lĩnh và dại dột vì CG sẽ bị giết : Người đời nghĩ khác nhưng TC lại nghĩ khác người đời.2. Xét trên bình diện siêu nhiên thì đó là sự kiên nhẫn và lòng tốt vô biên của TC :- Kiên nhẫn nói lên tình thương của TC.- Nếu ta làm quá thì sẽ bị loại (c 41)Bài học : Hãy đáp trả tình thương của TC.
Đề tài 3 : CG là đá tảng (c 42)1. Một vài danh ngôn :- Thế giới phải chọn một trong hai : Hoặc là cách mạng hoặc là ông Giêsu (Proudhon)- Thăm dò 1963 về CG : CG là đấng cứu thế 52%, CG là thầy chân lý 40% nam và 35 % nữ.- Thăm do 2005 tại Đức : Người đem lại niềm vui cho thế giới : Charlot và CG2. CG và con cái Ngài :- Thánh Augustinô : Hỡi các bạn trẻ, hãy tìm ĐK để được trẻ trung mãi mãi.- Pascal : Chúng ta chỉ hiểu được chúng ta qua ĐK.- Các thánh tử đạo hy sinh để rao truyền danh Chúa.Bài học : Hãy chạy đến với CG.

Lm. Phêrô Mai Tính SB59

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2009

Hãy làm hòa (Lm. Phêrô Mai Tính)

Thứ Sáu tuần 1 Mùa Chay
Mt 5, 20-26 : Hãy làm hòa

Đề tài 1 : Sống công chính (c 20)1. Sự công chính theo người biệt phái :- Sự công chính, theo người biệt phái, là nghiêm chỉnh giữ luật. - Họ quên rằng tình yêu thương mới là điều chính yếu. Hãy nhớ ở trên trời, chỉ còn bác ái mà thôi.2. CG đòi mọi người phải công chính hơn nghĩa là tốt hơn, thánh thiện hơn :- Có người không đồng ý chuyện hơn thua. Nhưng đó là yêu cầu của CG.- Có người quá tốt. Có người thì cần ơn Chúa thật nhiều để cải hóa.Bài học : Hãy sống mỗi ngày một tốt hơn.

Đề tài 2 : Giận hờn1. “Ai giận .. phải đưa ra tòa”(c 22) : - Luật cũ hơi sính bạo lực.- Luật mới cấm bạo lực và thêm tình thương.2. Chúa dạy bỏ hình thức và cần nội tâm hơn : Điều làm tâm hồn ra xấu xa không chỉ ở hành vi giết người nhưng ở lòng hận thù.Bài học : Hãy chú trọng cái tâm hơn hình thức.

Đề tài 3 : Làm hoà trước khi dâng lễ vật (c 24)1. Điều giá trị không phải chỉ giữ luật Phụng vụ (như lễ vật, con vật chọn lọc, hoa quả đầu mùa…)2. Điều kiện đến gần Chúa là mình không là nguyên nhân bất hoà.Bài học : Hãy sống hiếu hòa.

Đề tài 4 : Đi bước trước1. Nếu bất hoà là do ta thì ta phải thu xếp. Nếu bất hoà không do ta, ta đi bước trước để làm hoà thì tốt hơn. Đất không chịu trời thì trời chịu đất.2. Xin lỗi, làm hòa là thái độ can đảm và trưởng thành :- Ta ít nhận lỗi.- Ta hay đổ lỗi cho người khác.Bài học : Hãy cố gắng làm hoà trước.

Lm. Phêrô Mai Tính SB59

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009

Dám Nói Không (Trần Lan)

Đời Tam Quốc, Quan Văn Trường bị thất thủ thảm bại ở Hạ Bì. Thân đơn nhất mã, phò hai người chị dâu (tức vợ của Lưu Bị) qua nương tựa nhà Tào Tháo. Đêm đến, Tào Tháo cho ba người ngủ chung một phòng, dụng tâm là muốn cho chị em loạn luân, chúa tôi phải thất lễ .
Quan Văn Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dụng quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng.
Mọi người thấy vậy khen Văn Trường là ngưỡi chính trực. Từ đó, danh từ "Ngọn đuốc Văn Trường" được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vật dục quyến rũ lòng mình.
***
Những con người anh dũng lướt thắng cám dỗ như Quan Văn Trường quả là hiếm. Càng hiếm hơn nữa, những con người không để cho vật dục quyến rũ. Vì người ta đã quen lối sống dễ dãi, thích hưởng thụ, ham khoái lạc, cho nên tâm trí họ lúc nào cũng là là mặt đất, không đủ sức bật để vượt qua những cám dỗ thử thách, mà vươn lên những ý tưởng cao thượng, những ý nghĩ thánh thiêng.
Dù thế nào đi nữa, cám dỗ vẫn là số phận của con người. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian. Tuy nhiên, thành công hay thất bại cũng tùy thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng các cơn cám dỗ. Số phận đời đời cũng sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cơn thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.
Cuộc đời Đức Giêsu không thiếu những cơn cám dỗ, có lúc nhất thời, có khi dai dẳng. Những cơn cám dỗ ấy hoặc đến từ ma quỷ, hoặc từ người ta, hay có khi lại ngay trong bản thân Người.
Tin Mừng thuật lại các cơn cám dỗ từ ma quỷ : Chúng dụ dỗ Người biến đá thành bánh mà ăn, vì Người đã ăn chay ròng rã 40 đêm ngày. Chúng khiêu khích Người hãy gieo mình xuống từ nóc cao đền thờ. Chúng hứa cho Người vinh hoa lợi lộc các nước, nếu Người sấp mình bái lạy chúng. Cuối cùng, Đức Giêsu đã oanh liệt chiến thắng các cơn cám dỗ ấy, nhờ trưng dẫn các câu Kinh Thánh. Thật vậy, cám dỗ nào cũng bị Người đánh bại bởi các lời Kinh Thánh.
Kinh Thánh chính là khiên thuẫn cho người tín hữu trong mọi cơn cám dỗ. Một khi Lời Chúa đã thấm nhiễm vào con tim, khối óc, và toát ra trong các hành vi của người tín hữu, thì không một cơn cám dỗ nào mà họ không thể vượt qua, không một thử thách nào mà họ không lướt thắng.
Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một chọn lựa. Hoặc là chọn Thánh ý Chúa hoặc là chọn chính mình. Người không có Lời Chúa hướng dẫn, thường hay chọn mình lắm: họ chọn danh vọng cho mình, giàu sang cho mình, khoái lạc cho mình. Khi "cái tôi" đã đầy ứ trong lòng thì Thiên Chúa phải đội nón ra đi.
Muà chay là muà dọn mình để chiến đấu với các cơn cám dỗ. Cám dỗ từ ma quỷ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân mình. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào.
Dù bầu trời đen mênh mông bao trùm địa cầu, thì trong một bờ đá nào đó, cánh hoa mảnh mai vẫn hồn nhiên nở trong đêm khuya. Cánh hoa mỏng manh là thế mà sao dũng mạnh hơn tâm hồn chúng ta nhiều quá! Nếu hoa lá là ngôn sứ của Thiên Chúa, thì sứ điệp chúng ta là: Hãy mềm mại để cho Lời Chúa đưa chúng ta vượt qua đêm mưa bão của cám dỗ, thử thách. Và ngày mai trời lại sáng.
***
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có những kinh nghiệm của những sa ngã tồi tệ. Sa ngã này chưa vực dậy được, thì sa ngã khác lại vùi dập chúng con xuống. Xin cứu giúp chúng con và ban cho chúng con tinh thần kiên vững của Đức Kitô, luôn sống theo lời Chúa và tuân theo thánh ý Người. Amen.


Trần Lan

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2009

Chay tịnh (Trần Lan)

Chúa nhật 1 Mùa Chay B
Gn 9,8-15 ; Ps24 ;1Pet 3,8_22 ; Mc 1, 12-15

CHAY TỊNH

- Đức Giáo Hoàng Grêgoire 13 ấn định 6 tuần lễ trước lễ Phục sinh làm thời gian chuẩn bị, trùng hợp với thời gian 40 ngày, theo Kinh thánh : Tiên tri Môshê và Chúa Giêsu dùng 40 ngày ẩn mình trên núi, trong sa mạc, đẻ chuẩn bị lập Giao Ước mới.
- Đức Giáo Hoàng Phalô 6, với Công đồng Vatican 2, truyền bá vào năm 1969, đã thiết lập luật chay tịnh. Bộ luật công giáo yêu cầu những người ở tuổi từ 18 đến 59 ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.
Việc Ăn Chay có nghĩa là chỉ ăn no một bữa và một bữa tạm cho phép trong ngày hoặc ban sáng hay ban tối. Cũng khuyên những người từ 14 tuổi trở lên ăn chay và kiêng thịt vào hai ngày Thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh.
Tuy nhiên Mùa Chay không phải chỉ Ăn Chay hai ngày kể trên mà phải lắng nghe Lời Chúa, Cầu nguyện đặc biệt Gẫm Đàng Thánh Giá, thi ân trong những công tác từ thiện.
Tóm lại : Tất cả những truyền thống và Nghi thức Mùa Chay đã thay đổi theo thời gian, cũng chỉ vì mục đích là chuẩn bị mừng Lễ Phục sinh, cao điểm của Đức Tin Công giáo.

Lời Chúa hôm nay nhắc lại việc Chúa lập Giao Ước Mới vì tình thương tha thứ của Chúa. Chúa hứa không còn dùng nước lụt như thời Noê để tiêu diệt người tội lỗi, nhưng cho Con Một của Chúa là Chúa Giêsu đến chịu chết thay cho tội nhân, để nhờ Máu Ngài đổ ra mà rửa sạch tội nhân trần.
Con người đã được rửa tội nhờ nước và Chúa Thánh Thần, hãy sống xứng đáng vởi phẩm vị làm con Chúa, theo gương sống của Chúa Giêsu làm người.

Chúa Giêsu đã vào sa mạc 40 đêm ngày. Thời gian dài giữa cảnh thanh tịnh, thiếu mọi tiện nghi kể cả thực phẩm và nước uống. Đó là thời gian chay tịnh. Trong cảnh thiếu thốn, những mơ ước cám dỗ xảy đến : thèm khát ăn uống, cần những tiện nghi và nghĩ đến quyền lợi. Chúa Giêsu đã dùng Lời Kinh Thánh để đánh đổ những cám dỗ. Vì cám dỗ thì nhất thời mà Lời Chúa thì trường tồn. Dùng điều bền vững để đả phá những điều chóng qua, dĩ nhiên là thắng thế.
Bài học của Chúa Giêsu rất quí, rất thực tế cho chúng ta bắt chước.

Vì thế, trong 40 ngày Mùa Chay, mọi người hãy Chay tịnh, tức là hãy hãm mình.
Hãm bớt những đam mê, bớt tham lam của cải, hãm dẹp tính hung hăng, hãm lòng tự cao tự đại, hãm bớt những sở thích thường nhật.
Sự hãm mình sẽ tạo cho mình có được nội lực làm chủ bản thân khi cần thiết

Chay tịnh thể xác là hãm mình. Nhưng còn thứ chay tịnh tinh thần cũng rất quan trọng. Vì khi con tim chay tịnh thì không còn chỗ cho hận thù, chia rẽ, ghen ghét, ác ý, lạnh lùng. Một con tim chay tịnh chỉ có nơi con người biết yêu thương, quảng đại và nhạy cảm trước cảnh đau khổ, bất công nơi anh chị em đồng loại.

Vì vậy, Mùa Chay tịnh 2009, xin nhắn với mọi người vài điều vài điều :
- Hãy sống đơn giản, tránh kiểu sống nô lệ phương tiện vật chất và chạy theo thời trang.
- Hãy nhận biết mình và biết người ( tri bỉ tri kỷ) : mình được Chúa cho cái này, người ta cũng được Chúa ban cho ơn khác, tránh kiêu căng coi mình hơn thiên hạ….
- Lắng nghe, đọc và gẫm suy Lời Chúa.


Trần Lan

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2008

Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội - Tín Điều

Mừng Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, đọc lại thông điệp Đức Mẹ nói với thánh Bernadette

Đức Mẹ Hiện Ra Tại Lourde (Lộ Đức), Nước Pháp

Vào trưa ngày 11 tháng 2 năm 1858, Bernadette, Jeanne Abadie và Marie Toinette cùng nhau tiến về bờ suối Gave nhặt củi. Đến gần hang Massabielle, các em phải lội qua giòng nước để sang bờ bên kia. Hai bạn đã qua suối, còn Bernadette vì bệnh nên sợ nước lạnh, cứ ngập ngừng chưa chịu lội sang. Bernadette kể:

"Tôi đang định tháo giầy để lội xuống nước, thình lình tôi nghe tiếng gió ù-ù thổi mạnh như sắp có cơn bão lớn. Nhìn trước nhìn sau không thấy gì, tôi tiếp tục cởi vớ để lội qua suối, thì tiếng gió lại nổi lên. Nhìn thẳng về hang núi, tôi thấy một thiếu nữ rất xinh đẹp đứng đó, trạc độ 17 tuổi, mặc áo trắng dài che gần hết đôi chân, mỗi đầu ngón chân là một bông hồng óng ánh. Thiếu nữ thắt lưng xanh, tay đeo tràng chuỗi, hạt trắng hạt vàng, giống những bông hồng ở nơi chân. Trên đầu trùm khăn trắng xoã xuống thân người. Tưởng rằng nhìn lầm, tôi dụi mắt nhìn lại nhưng vẫn thấy là bà ấy. Sợ quá, tôi vội thọc tay vào túi lấy ra xâu chuỗi và quì xuống lần hạt, xin Đức Mẹ đến cứu giúp. Bà cũng lấy xâu chuỗi đeo trên cách tay mình và bắt đầu lần hạt với tôi. Lần hạt xong, Bà làm hiệu cho tôi đến gần, nhưng sợ quá, tôi chạy vội qua suối, quơ đống củi mà các bạn đã xếp đống ở đó đem về nhà. Bà đẹp biến đi và hai bạn cũng không hay biết chuyện gì xảy ra cho tôi cả. Trên đường về, thấy nét mặt của tôi khác thường, nên Marie gạn hỏi mãi, nhưng tôi không chịu nói. Tới khi về gần đến nhà tôi mới chịu thuật lại chuyện lạ đã xẩy ra cho mình. Không giữ được bí mật, em Marie đi nói cho mẹ nghe. Thế là tôi bị quở trách nặng lời suốt buổi và mẹ còn cấm chúng tôi từ nay không được đến đó nữa".

Mãi đến hai ngày sau (14 tháng 2 năm 1858), như có tiếng thúc bảo, Bernadette mới dám mở miệng xin mẹ cho ra hang núi cùng với mấy người bạn đã được nghe kể. Năn nỉ mãi bà mới cho phép đi. Thình lình Bernadette la lên:

- Bà đến! Bà đến rồi kìa.

Theo lời người bạn bảo:

- Nước-Thánh sẽ xua đuổi ma qủi hiện hình trêu ghẹo, nên Bernadette đã lấy Nước-Thánh đem theo rẩy lên bà. Bà đẹp chẳng sợ, lại tỏ ra hài lòng và mỉm cười với mọi người. Thế là người ta đoán là Đức Mẹ hiện ra. Bernadette cầu nguyện sốt sáng và bắt đầu ngất trí, mãi đến khi được đưa về nhà Bernadette mới tỉnh. Tiếng đồn lại càng lan rộng thêm về điềm lạ ấy.

Lần thứ ba Đức Mẹ hiện ra ngày 18 tháng 2 năm 1858. Lần này có nhiều người hơn theo Bernadette để xem sự lạ. Bernadette đem theo giấy viết để xin Đức Mẹ ghi những gì Mẹ muốn dạy, nhưng Đức Mẹ không viết mà chỉ cho biết Bernadette sẽ phải khổ nhiều ở trần gian, nhưng sẽ được hạnh phúc trên trời. Mẹ lại xin Bernadette trở lại gặp Mẹ 15 ngày liền nữa. Ba lần hiện ra vừa qua chỉ là chuẩn bị cho những lần hiện ra sau này.

Những lần hiện ra kế tiếp là những lần Bernadette ngất trí và xuất thần, người xem chỉ thấy những cử chỉ lạ nơi thân xác em, còn nội dung chỉ được tỏ ra dần dần. Những lần này cũng là để các vị liên hệ và nhà chức trách kiểm chứng sự thể. Một vài lời dạy Bernadette nhận được như:

- Các con hãy cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại.

- Các con hãy làm tròn bổn phận hàng ngày.

- Hãy cầu nguyện cho những người cứng lòng tin, cho những người cố tâm phá hoại Đạo Chúa, được ơn thống hối ăn năn... .

- Hãy ăn năn đền tội.

Lần thứ 9 hiện ra, Đức Mẹ chỉ cho Bernadette lấy tay cào bới chỗ đất khô trước mặt em, để khơi nguồn một suối nước có phép chữa bệnh cho những ai vững niềm tin cậy.

Lần thứ 10 (ngày 26 tháng 2 năm 1856), Đức Mẹ hiện ra và truyền:

- Con hãy hôn đất ăn năn thay cho người có tội.

Bernadette cũng làm hiệu cho mọi người cúi xuống hôn đất ăn năn tội.

Lần thứ 11 hiện ra, Đức Mẹ bảo Bernadette về thưa cùng cha sở

- Xây cho Mẹ một đền thờ ở đây để Mẹ thi ân cho nhân loại.

Chúa Nhật ngày 28 tháng 2 năm 1858, trên 2000 người tựu lại để xem sự lạ. Lần này Bernadette thưa Đức Mẹ về chuyện đã xin với cha sở xây nhà thờ như Mẹ dạy. Đức Mẹ mỉm cười với lời thân thưa ấy.

Lần thứ 14 Đức Mẹ nói:

- Mẹ muốn người ta đến đây thăm viếng Mẹ.

Từ đó con cái muôn phương trên thế giới đã đến đây thăm viếng Mẹ không ngớt.

Lần thứ 15 Đức Mẹ chỉ hiện ra cho Bernadette chiêm ngắm và không làm dấu lạ nào khác.

Lần thứ 16 Đức Mẹ tỏ mình ra:

- Ta là Đấng Chẳng Mắc Tội Tổ Tông.

Đây là lần thứ hai Đức Mẹ tỏ cho nhân loại biết về ơn đặc biệt này của Mẹ. (Lần thứ nhất Đức Mẹ đã tỏ ra cho chị Catharine Labouré trong tu viện Rue Dubac, Paris).

Lần thứ 17 một phép lạ xẩy ra là lúc Bernadette xuất thần, tay đang cầm đèn cầy cháy sáng, các bác sĩ thử nghiệm đã úp hai bàn tay Bernadette lên ngọn lửa mà tay em không bị đốt cháy.

Lần thứ 18 cũng là lần hiện ra sau hết, Đức Mẹ đến chỉ để an ủi và mừng cho Bernadette trong ngày em được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng lần đầu tiên trong đời.

Tóm lại, Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadette cả thẩy 18 lần để nhắc nhở loài người: Năng chạy đến với Mẹ, ăn năn đền tội, lần hạt Mân Côi để làm nguôi đi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vì tội lỗi nhân loại đã xúc phạm đến Ngài. Ngoài ra còn để Mẹ thi ân cứu giúp những ai chạy đến cùng Mẹ nữa.

_________________________________________

1. Lịch Sử Tín Ðiều
Thánh Lễ kính mầu nhiệm Vô Nhễm đã có từ giữa thế kỷ thứ VII và thứ VIII tại Ðông Phương. Các vị giảng thuyết nói về sự thai sinh Vô Nhiễm, thánh thiện mà không nêu lên vấn đề nào khác.
Vào thời Trung Cổ, Thánh Lễ đã nhập vào Tây Phương, và từ thế kỷ thứ IX, nhiều dòng tu ở Ðức và cả La mã đã mừng kính.
Vào năm 1060, các Thầy Dòng đem vào Anh Quốc và giữa năm 1127 và 1128, Thánh Lễ được lan rộng trong cả Âu Châu, mặc dầu Thánh Bênađô tỏ ra dè dặt trước "sự mới lạ" ấy.
Thoạt đầu, đây là một phong trào sùng kính sốt sắng nhưng thiếu sự suy tư, nhất là bị ảnh hưởng của những ý kiến mù mờ của thời đại.
Người ta tin tưởng với Thánh Augustinô rằng việc giao hợp vợ chồng, cả trong hôn phối Kitô giáo, là một hành động trác táng lưu chuyển tội tổ tông. Và như vậy, Mẹ Maria sinh bởi sự giao hợp của Cha Mẹ, làm sao thoát khỏi định luật ấy. Vả lại, người ta có một quan niệm không mấy khoa học về việc thai sinh, như thể xác được cưu mang trước rồi linh hồn đến trong khoảng cách sau: Linh hồn con trai trước 40 ngày, linh hồn con gái phải lâu hơn mới hợp với thể xác vì bản tính con gái yếu kém!
Các nhà thần học lại không biết làm sao để thoát khỏi cái vòng lý luận sau đây: Chúa Kitô là Ðấng Cứu Chuộc hết mọi người. Nếu nói rằng Ðức Mẹ không vướng mắc tội lỗi cho dầu chỉ nói đến tội tổ tông thôi thì Chúa Kitô không còn là Ðấng Cứu Chuộc toàn thể nhân loại. Chương trình Cứu Ðộ có một kẽ hở. Và tất cả các nhà thần học thế kỷ XIII, kể cả Thánh Tôma Aquinô đều nghĩ rằng Ðức Mẹ vẫn phần nào lệ thuộc tội lỗi; ít là trong thẩ xác khi thai sinh.
Cuối thế kỷ XIII, nhà thần học Duns Scott đã có công học hỏi và đảo ngược lại lý luận trên. Ông cho rằng đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Ðức Mẹ chẳng những không làm tổn thương đến vinh dự Chúa Kitô và công cuộc cứu chuộc của Ngài mà, trái lại, càng làm tỏ rạng sự sung mãn của công cuộc ấy. Vì Ðấng cứu chuộc hoàn hảo phải là Ðấng không những có thể Chữa Lành tội lỗi mà còn Ngăn Ngừa tội lỗi.
Cũng như một người mẹ tỏ ra có một tình thương hữu hiệu khi Bà tắm rửa cho đứa con vừa rơi vào đống bùn; nhưng nếu Bà biết ngăn ngừa kh6ng để cho con rơi vào bùn thì tình thương của Bà càng linh nghiệm hơn.
Nhờ sự trực giác sâu xa ấy, Duns Scott đã đổi ngược thế cờ, giải quyết được vấn nạn được coi là nan giải trước đây về sự thánh thiện nguyên thủy nơi Ðức Mẹ. Ông đã minh chứng rằng giáo lý Ðức Mẹ Vô Nhiễm có thể chấp nhận được và hơn nữa đặc ân ấy tương xứng với địa vị của Mẹ Thiên Chúa.
Sau ông, giáo thuyết lan rộng như vết dầu loang.
2. Công Bố Tín Ðiều
Sau nhiều thế kỷ học hỏi, nghiên cứu, tranh luận nữa, vấn đề đã được Ðức Giáo Hoàng Piô IX giải quyết khi Ngài công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngày mồng 8 tháng 12 năm 1854.
Lời công bố nhắc lại những lời của vị Giáo Hoàng Alexandre VII (1661) năm xưa, khi ngài đặt liên hệ giữa việc cứu chuộc toàn diện và đặc ân vô nhiễm của Ðức Mẹ.
Lời công bố không phản lại việc cứu chuộc toàn diện mà còn làm sáng tỏ hơn: Mẹ Maria đã được Chúa cứu rỗi do công nghiệp tiền ứng và hồi tố của Chúa.
Nguyên văn Lời Công Bố như sau:
"Từ giây phút đầu tiên khi tượng thai, do một đặc ân và ưu huệ của Thiên Chúa toàn năng và dựa trên công nghiệp Chúa Giêsu Kitô Ðấng Cứu Chuộc nhân loại, Ðức Trinh Nữ Maria được gìn giữ khỏi vướng mắc mọi tỳ ố, tội tổ tông truyền". (Piô IX - sắc lệnh Munificentissimus ngày 8 tháng 12 năm 1854).
3. Căn Bản Thánh Kinh
Như đã nói, Tín điều này không được ghi rõ trong Thánh Kinh.
Nhưng Tín điều được tiềm ẩn trong nguồn mạc Khải, trong tư tưởng Dân Chúa được coi là một vị hôn thê. Tiên tri Ôsê lên tiếng mạt sát dân được tuyển chọn như một cô gái lăng loàn, một dâm phụ (2,4-7).
Nhưng rồi người nhìn thấy một cuộc đổi mới và ca tụng như một vị hôn thê.
"Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãita đính hôn với ngươi bằng công chínhCông minh, nhân nghĩa xót thươngTa sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tin và ngươi sẽ biết Gia vê" (Ôsê 2,4-22)
Hình ảnh người dâm phụ dần dần được xóa mờ hẳn để lộ hiện chân dung người hôn thê:
"Em mỹ miều, hiền thê ơiNơi em không có một tì vết..." (Diệu ca 4,7-8).
Lời Thiên Chúa phán hứa sẽ thực hiện. Nhưng thực hiện ở đâu? Phải chăng ở nơi Giáo Hội? Chưa hẳn vì Giáo Hội cũng bao gồm rất nhiều người tội lỗi. Lời phán hứa được thể hiện nơi Ðấng đã được tuyển chọn để làm Mẹ Chúa Kitô, của Giáo Hội và của công cuộc tạo dựng mới. Ðó là Ðức Maria, Ðấng thánh thiện và không mặc tì ố.
Như vậy, mầu nhiệm vô nhiễm đã có căn bản tiềm ẩn trong Thánh Kinh và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội càng ngày càng ý thức hơn và long trọng tuyên bố thành tín điều, như chiếc nụ hồng đầu xuân hé mở thành một cánh hoa xinh tươi. Mẹ là bà Evà mới trong cuộc tạo dựng mới. "Mẹ trẻ trung hơn tội lỗi, hơn nòi giống đã sinh ra Mẹ" - Plus jeune que le péché, plus jeune que la race dont elle est issue" (Bernanos - Journal d'un Curé de campagne, 1936).
4. Thánh Tích
Hôm ấy, ngày 25 tháng 3 năm 1858, ngày Lễ Truyền Tin, Cô Bernađetta thức dậy thật sớm. Cô cảm thấy có một sức mạnh thúc đẩy cô ra hang Ðá Lộ Ðức. Cha mẹ Cô không muốn cho cô đi, nhưng biết rằng con đang bị một sức mạnh thúc đẩy như không chống lại được. Từ 5 giờ sáng, Cô đã lên đường đi ra bộng đá.
Lần này, cô nhất quyết phải hỏi cho bằng được tên của "Bà lạ". Mấy lần trước Bà chỉ mỉm cười, đem bút mực ra xin Bà viết Bà cũng chỉ mỉm cười. Nhưng lần này, cô phải trả lời cho Cha Sở.
Sau khi lần hạt, Bà lạ tiến ra gần cửa hang. Bernađetta sung sướng và lấy hết can đảm nói lên câu mà cô đã dọn sẵn bằng thổ ngữ.
- Thưa Bà. Xin Bà làm ơn nói cho con biết Bà là ai?
Bà lạ chỉ mỉm cười. Bernađetta hỏi lại lần thứ hai, thứ ba. Bà vẫn mỉm cười. Nhưng lần này cô cương quyết phải hỏi cho kỳ được vì đó là điều kiện của Cha Sở, nếu Bà muốn chó một nhà thờ như Bà xin.
Sau lần hỏi thứ tư. Bà lạ không cười nữa.
Bà mở hai tay ra chỉ xuống đất. Rồi Bà chấp tay lại ngang ngực ngước mắt nhìn trời và nói:
- Que soy era Immaculada Concepciou"
Rồi Bà biến đi trong vùng ánh sáng.
Mặt Bernađetta trở lại vẻ hồng hào vui tươi. Cô chạy ngay về nhà Xứ, vừa chạy vừa lẩm nhẩm trong miệng kẻo sợ quên mất lời Bà lạ vừa nói.
Immaculada Coun-cetiou
Immaculada Coun-cetiou.
Cô hơi líu tíu với hai chữ cuối cùng. Vừa vào nhà Cha Sở, cô thốt ra ngay:
"Que soy era Immaculada Concepciou".
Cha Sở giật mình như muốn ngã. Ngài biết rằng Bernađetta không thể tự mình bày ra. Cha như bị một ánh sáng làm hoa mắt... Nhưng rồi ngài chấn tĩnh, lấy lại vẻ nghiêm khắc thường có và nói với Cô bé:
- "Một Bà không thể mang tên đó. Cô lầm! Cô có hiểu câu đó không?
Bernađetta nhẹ lắc đầu.
- "Nếu Cô không hiểu sao cô lại nói?"
- "Con lập đi lập lại trên suốt đường về".
Cha Peyramale cảm động, cố nén giòng lệ như muốn trào ra.
Bernađetta đứng im lặng rồi lẩm bẩm như một lời van xin:
- "Thưa Cha, Bà ấy vẫn muốn Cha xây một nhà thờ".
Cha Sở vận dụng tất cả uy quyền như để bảo tồn danh dự:
- "Cô đi về đi, ta sẽ gặp lại lần khác.
Bernađetta không hiểu vì sao Cha Sở có vẻ phật ý. Cô tự hỏi câu ấy có nghĩa gì? Ngày Lễ mồng 8 tháng Chạp, chắc Cô đã nghe giảng những bài giảng bằng Pháp ngữ mà cô mù tịt tiếng Pháp. Cô chỉ biết thổ ngữ. Về đến nhà Cô mới được Ông Estrace giải thích.
Thì ra Bà lạ đã nói tên:
Que soy era Immaculada Concepciou, là thổ âm miền Pyrênê, theo Pháp ngữ là:
Je suis l'Immaculée Conception.
Ta là Ðấng chẳng hề mắc tội Tổ Tông truyền.
Ðó là Tín điều Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã công bố 4 năm về trước trong Tông Huấn Munificentissimus ngày 8 tháng 12 năm 1854:
"Ta công bố rằng Ðức Trinh Nữ Maria đã được gìn giữ khỏi mọi tì ố của tội Tổ Tông truyền... ngay từ giây phút đầu tiên khi mới tượng thai".
Ðây là lần hiện ra thứ XVI. (Phỏng theo La Vie de Bernadette của R. Laurentin. Desclée De Brouwer 1978).

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2008

Người sống sót cuối cùng trên tàu Titanic qua đời

Người sống sót cuối cùng trên tàu Titanic qua đời
Tàu Titanic rời Southampton, England ngày 10/4/1912.
(Dân trí) - Lillian Gertrud Asplund, người Mỹ cuối cùng sống sót trong thảm kịch đắm tàu Titanic năm 1912, đã qua đời tại nhà riêng ở Boston, thọ 99 tuổi, ban tổ chức tang lễ gia đình bà hôm qua cho biết.
Khi con tàu “không thể đắm” Titanic đâm phải một tảng băng trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương, Asplund mới chỉ 5 tuổi. Trong thảm kịch đó Asplund đã mất cha và 3 anh em trai. Mẹ của Asplund cùng một người em trai khác, Felix, lúc đó 3 tuổi, may mắn thoát chết khi Titanic chìm xuống đại dương sáng sớm ngày 15/4/1912.

Bà Asplund là người sống sót cuối cùng có thể nhớ tường tận về vụ đắm tàu. Tuy nhiên, bà luôn lánh xa công chúng và hiếm khi nhắc lại kỷ niệm đau buồn đã qua. Bà làm thư ký ở Worcester hầu như suốt cuộc đời mình, và không lấy chồng để chăm sóc mẹ, người luôn bị ám ảnh bởi thảm kịch kinh hoàng Titanic.

Ít nhất 2 người khác trên tàu Titanic năm nào vẫn còn sống sót. Tuy nhiên, họ còn quá nhỏ để biết chuyện gì đã xảy ra. Những người đó là Barbara Joyce West Dainton, ở Truro, Anh, khi đó mới 10 tháng tuổi; và Elizabeth Gladys, Southampton, Anh, thậm chí mới được 2 tháng tuổi.

Năm định mệnh 1912, gia đình bà Asplund đã lên tàu Titanic từ Southampton, England để trở về Worcester, sau nhiều năm ở Thuỵ Điển, đất tổ của gia đình.

Mẹ của Asplund đã miêu tả vụ đắm tàu trong một cuộc phỏng vấn với tờ Telegram & Gazette ngay sau khi trở về nhà cùng hai con. Bà Selma Asplund cho biết, gia đình bà đã chạy lên trên tầng cao của con tàu khi nó đâm phải tảng băng. “Tôi có thể nhìn thấy các tảng băng từ rất xa. Trời lạnh và những tảng băng nhỏ dính sát vào nhau. Đứa con nhỏ của tôi, Lillie, theo tôi. Còn chồng tôi thì nói: “Đi lên trên đi, chúng ta sẽ lên một chiếc tàu nhỏ”. Ông ấy đã mỉm cười khi nói vậy.”

Bà Selma Asplund mất năm 1964, 52 năm sau khi Titanic chìm xuống biển khơi, thọ 91 tuổi. Còn Felix Asplund mất ngày 1/3/1983, thọ 73 tuổi.

PV
Theo AP

BÍ ẨN VỀ CON TÀU HUYỀN THOẠI TITANIC - SỐ PHẬN CÁC HÀNH KHÁCH ?

BÍ ẨN VỀ CON TÀU HUYỀN THOẠI TITANIC - SỐ PHẬN CÁC HÀNH KHÁCH ?
By blazhuy. Friday, 14. September 2007, 18:00:56

Giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ gần đây xôn xao về một số vụ mất tích - tái hiện một cách thần bí. Nhiều người cho rằng hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian”.Ngày 14/4/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước.Ngày 24/9/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập.Còn tiếp => Read more . plz
Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói: “Tôi tên là Wenni Kate, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”. Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm. Kate được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn. Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi.Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người: Chẳng lẽ từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà Kate không hề già đi chút nào? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Kate nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra.
Ngày 9/8/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía Tây Nam cách núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Iderlan, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng chìm xuống biển cùng với con tàu . Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60 tuổi. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/9/1912.
Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/9/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định, người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.
Vậy bạn giải thích sao cho việc này ?

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

Đọc Kinh Kính Mừng bằng tranh


Kính mừng Maria,


Đầy ơn phúc.




Đức Chúa Trời ở cùng Bà.



Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ,



Và Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ.





Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời,





Cầu cho chúng con là kẻ có tội


khi này và trong giờ lâm tử.


Amen.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

BÍ MẬT FATIMA

BI MẬT THỨ NHẤT:
Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân mình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rớt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các quỷ dữ có thể được phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiếp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suốt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Ðấng đã báo trước cho chúng con trong lần Hiện ra thứ nhất khi hứa rằng Ngài đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết điếng vì sợ hãi và kinh khiếp.

BI MẬT THỨ HAI:
Sau đó mắt chúng con hướng về Ðức Bà. Ngài hết sức âu yếm và buồn bã nói với chúng con: “Chúng con đã thấy hoả ngục, nơi mà các linh hồn tội lỗi đáng thương đi vào. Ðể cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm. Nếu điều Mẹ nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu và sẽ có hoà bình. Chiến tranh sẽ kết thúc: nhưng nếu dân chúng không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tranh tồi tệ sẽ xảy ra trong triều Giáo hoàng của đức Piô XI. Khi chúng con thấy một đêm tối được chiếu sáng bởi một ánh sáng chưa từng biếât, chúng con hãy biết rằng đó là dấu chỉ lớn lao mà Thiên Chúa ban cho các con để biết rằng Người sắp trừng phạt thế gian vì những tội ác của nó, bằng chiến tranh, đói kém, và những bách hại đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha. Ðể tránh điều này, Mẹ sẽ xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, và Hiệp thông đền tạ vào ngày Thứ Bảy đầu tháng. Nếu lời cầu xin của Mẹ được chấp nhận, Nước Nga sẽ hoán cải, và sẽ có hoà bình; nếu không, nó sẽ phổ biến những lầm lạc trên khắp thế giới, gây nên những chiến tranh và bách hại cho Hội Thánh. Những kẻ lành sẽ bị giết hại; Ðức Thánh Cha sẽ đau khổ nhiều; nhiều quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ toàn thắng. Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, và nó sẽ được hoán cải, và một giai đoạn hoà bình sẽ được ban cho thế giới”.


BI MẬT THỨ BA:
Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian: chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!'. Và chúng con thấy trong một luồng sáng lớn là Thiên Chúa: ‘một cái gì tương tự như cách người ta xuất hiện trong một tấm gương khi người ta đi ngang qua’ một Giám mục bận đồ trắng ‘chúng con có cảm nhận đó chính là Ðức Thánh Cha’. Các Giám mục, các Linh mục, các tu sĩ nam nữ khác leo lên một ngọn núi dốc thẳng, trên đỉnh núi có một Thánh giá lớn làm bằng thân cây thô nhám như thể của một cây bần với vỏ cây; trước khi đến đó, Ðức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn, một nửa bị tàn phá và một nửa rung chuyển, với bước chân nghiêng ngả, buồn khổ vì đau đớn và ưu phiền, ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thân xác ngài gặp trên đường; khi đã lên đỉnh núi, quỳ dưới chân Thánh giá lớn, ngài đã bị một nhóm lính giết hại bằng đạn và mũi tên, và cùng một cách thức như thế các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ khác, và các người giáo dân thuộc mọi giai cấp và địa vị xã hội khác nhau lần lượt bị giết hại. Bên dưới hai cánh tay của Thánh giá có hai Thiên thần, mỗi vị cầm trong tay một chiếc bình bằng pha lê, trong đó các ngài hứng máu của các vị Tử đạo và với máu đó các ngài rảy trên các linh hồn đang tiến về Thiên Chúa.
Mệnh Lệnh Ðức Mẹ Fatima:
Năm 1917, khi hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima, Ðức Mẹ đã truyền dạy phải thực hiện 3 mệnh lệnh Fatiam để cứu nhân loại và cức các linh hồn khỏi lửa luyện ngục. Ba Mệnh lệnh đó là:
1. Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống 2. Tôn sùng Trái Tim vẹn sạch Ðức Mẹ 3. Lần Chuỗi Mân côi

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử Giáo Hội

Một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử Giáo Hội:Trong một năm:3 vị Giáo Hoàng, 2 lần triệu tập Cơ Mật Viện, 1 cái chết gây nghi vấnCách đây đúng 30 năm về trước, vào năm 1978 đã xảy ra trong Giáo Hội Công Giáo một biến cố độc nhất vô nhị, đó là: • ba vị Giáo Hoàng liên tiếp kế vị nhau, • hai lần các ĐHY trên khắp thế giới đã được triệu tập về Roma tham dự Cơ Mật Viện để bầu Tân Giáo Hoàng, • và sự kiện băng hà quá đột ngột của ĐGH Gioan Phaolô I đã tạo cơ hội cho các dư luận thế giới đặt nghi vấn.ĐGH Phaolô VI. ĐGH Gioan Phao I. ĐGH Gioan Phaolô II1) Đức Phaolô VIVào giữa tháng 7 năm 1978, khi ĐGH Phaolô VI lên đường đi nghỉ hè tại Castelgandolfo, có lẽ ngài đã biết trước được cuộc hành trình trần thế của mình đã sắp sửa kết thúc khi ngài tâm sự với bộ trưởng Nội Vụ của ngài là ĐHY Giuseppe Capriô: «Ta không biết có trở lại nữa hay không … và Ta sẽ trở lại bằng cách nào.» Ngày 2.08.1978, ngài còn xuất hiện trong cuộc yến kiến chung ngay trong sân nội của dinh Castelgandolfo. Sau đó là ngài bị lên cơn sốt dữ dội trong suốt hai ngày liên tiếp. Vì thế Kinh Truyền Tin vào trưa Chúa Nhật bị bãi bỏ và dư luận càng xôn xao. Trong khi đó cơn sốt càng lên cao, còn huyết áp lại hạ xuống quá thấp, và với tuổi 80, Đức Phaolô VI không còn sức để cầm cự với cơn bệnh nữa. Và Vatican đã thông báo cho toàn thế giới: «Vào lúc 21g40 ngày Chúa Nhật, 6.08.1978, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã an nghỉ trong Chúa.»Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, Đức Phaolô VI được mệnh danh là vị «Giáo Hoàng của Công Đồng». Thực ra Đức Gioan XXIII đã triệu tập và khai mạc Công Đồng chung Vatican II. Nhưng chính Đức Phaolô VI mới là người điều khiển và kết thúc tốt đẹp Công Đồng quan trọng này. Trước khi được bầu làm Giáo Hoàng với tước hiệu Phaolô VI vào ngày 21.6.1963, ĐHY Giovanni Battista Montini giữ chức bộ trưởng Bộ Nội Vụ của Vatican.Đức Phaolô VI hướng dẫn hướng đi của Công Đồng là mở cửa Giáo Hội thông ra với thế giới. Là vị Giáo Hoàng đầu tiên của thời đại mới hậu Công Đồng, Đức Phaolô VI đã khởi đầu các cuộc tông du đến với các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở khắp nơi trên thế giới. Ở Giê-ru-sa-lem, ngài đã cùng với Đức Thương Phụ Athenagoras thành Constantinople khởi động công cuộc xích lại gần nhau giữa các Giáo Hội Kitô giáo đang bị phân ly từ hàng thế kỷ qua. Chính ngài cũng tìm cách mở rộng mối quan hệ với các tôn giáo khác. Về lãnh vực chính trị, khi thế giới được chia ra làm khai khối liên kết chống đối nhau rõ rệt bằng một cuộc chiến tranh lạnh đầy đe dọa, Đức Phaolô VI đã nổ lực đưa ra một đường lối ngoại khôn khéo mềm dẽo với mục đích nhằm mang lại cho các Kitô hữu đang sống bên kia bức màn sắt dưới chế độ cộng sản vô thần một chút không khí nhẹ nhàng dễ thở hơn. Dĩ nhiên, đường lối ngoại giao mềm dẽo cần thiết như thế với các chế độ cộng sản ở Đông Âu đã không tránh khỏi những phê bình chỉ trích của một số nhà chính trị phía khuynh hữu.Còn việc áp dụng các quyết định của Công Đồng vào đời sống cụ thể của Giáo Hội, người ta có thể nói là đầy vất vả. Là người vốn có bản tính hay do dự, Đức Phaolô VI thường đã rơi vào tình trạng «tiến thoái lưỡng nan» giữa các khuynh hướng đối kháng nhau trong Giáo Hội vào lúc bấy giờ của những người chủ trương canh tân cải tổ và của những người chủ trương duy trì bảo thủ. Nhưng bầu không khí phê bình chống đối mạnh mẽ trong cũng như ngoài Giáo Hội thực sự bùng nổ vào năm 1968 khi Đức Phaolô VI cho công bố thông điệp «Humanae Vitae» đề cập đến phẩm giá đời sống con người. Trong bức thông điệp, Đức Phaolô đã minh định rằng các phương tiện hạn chế sinh sản một cách giả tạo là hoàn toàn đi ngược lại chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, một điều Người đã khắc ghi vào trong thiên nhiên như một định luật bất khả thay đổi. Và đó là sự thật.Thi hài Đức Phaolô VI đã được di chuyển từ Castelgandolfo về quàn tại đền thờ Thánh Phêrô. Sau đó sáu ngày thì ngài được an táng trong một ngôi mộ đất đơn sơ ngay dưới đền thờ Thánh Phêrô.2) Đức Gioan Phaolô IMười chín ngày sau khi Đức Phaolô băng hà, 111 vị Hồng Y trên khắp thế giới đã được triệu tập về Roma tham dự Cơ Mật Viện để bầu Tân Giáo Hoàng. Các tiêu chuẩn được đưa ra để bầu vị Tân Giáo Hoàng vào thời hậu Công Đồng phải là:• người có tinh thần hoà giải, biết can đảm bênh vực những người nghèo khổ và những người bị đàn áp trên khắp thế giới, • người vừa biết mở rộng cửa ra với thế giới và vừa biết tôn trọng các truyền thống và quá khứ cao đẹp và thánh thiêng của Giáo Hội, • người có uy quyền cá nhân, cụ thể và dứt khoát trong hành động cũng như có đặc sủng chuyên biệt,• người có tinh thần hợp tác với các Giám Mục và các thành phần Dân Chúa trên phắp thế giới.Vào lúc bấy giờ, ở bên ngoài tuy khí trời mùa hè đã hạ nhiệt, nhưng trong Cơ Mật Viện, các Đức Hồng Y hiện diện đã phải tuân thủ những điều kiện bầu cử hết sức chặt chẽ và nghiêm khắc. Và cuộc họp của Cơ Mật Viện lần này là một cuộc họp ngắn nhất trong lịch sử, chỉ sau ba vòng bầu trong ngày đầu tiên các Đức Hồng Y đã dồn phiếu cho ĐHY Albino Luciani, Thượng Phụ thành Venise/Ý. ĐHY Albino Luciani đã vâng theo thánh ý Chúa chấp nhận kết quả cuộc bầu cử Giáo Hoàng và lên ngôi kế vị Đức Phaolô VI với tước hiệu Gioan Phaolô I. Đây là một tước hiệu mang ý nghĩa sâu xa: trước hết muốn nói lên ngài là vị Giáo Hoàng của Công Đồng Vatican II với tinh thần canh tân và mở cửa Giáo Hội của hai vị Tiền Nhiệm thánh thiện khả kính của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, những vị Giáo Hoàng đã triệu tập, khai mạc, điều khiển và kết thúc tốt đẹp thánh Công Đồng chung Vatican II. Đức Gioan Phaolô I đã thu phục được cảm tình của dư luận thế giới bằng những bài thuyết giảng đơn sơ, phù hợp với đại chúng và bằng thái độ cử chỉ thân thiện gần gũi của ngài. Vì thế, người ta đã đặt cho ngài biệt danh: «Vị Giáo Hoàng mỉm cười.»Nhưng tiếc thay, Đức Gioan Phaolô I đã đi vào lịch sử Giáo Hội như là vị «Giáo Hoàng 33 ngày». Vâng, vừa lên ngôi Giáo Hoàng mới 33 ngày, chưa kịp thi hành sứ vụ của mình thì Đức Gioan Phaolô I đã đột ngột qua đời. Có lẽ bộ máy hành chánh vĩ đại và vô cùng khó khăn phức tạp của giáo triều Vatican xem ra vượt sức một vị Mục Tử với tâm hồn đơn sơ, dễ thương và nhân hậu như Đức Gioan Phaolô I; thêm vào đó cả mặc cảm bị lẻ loi lạc lõng cũng hằng ám ảnh ngài.Đứng trước cái chết như thế, các nhà văn viết tiểu thuyết với đầu óc tưởng tượng phong phú của họ đã đưa ra những giả thuyết đầy nghi vấn về cái chết đột ngột của Đức Gioan Phaolô I, như ông David Yallup trong cuốn tiểu thuyết của ông với nhan đề là «Im Namen Gottes» - (Nhân danh Thiên Chúa), một cuốn tiểu thuyết đã bán được hàng triệu ấn bản, cho rằng cái chết của Đức Gioan Phaolô I là do bị bỏ thuốc độc. Nhưng đây chỉ là một nghi vấn thiếu kiểm chứng, vì các bác sĩ y khoa đã chứng thực một cách khoa học và khách quan rằng đó cái chết tự nhiên, hậu quả của chứng đau tim.3) Đức Gioan Phaolô IISau khi Đưc Gioan Phaolô I băng hà, dư luận bắt đầu nói đến hiện tượng «trong một năm: hai cơ mật viện, ba vị giáo Hoàng» và cũng vì cái chết đột ngột của Đức Gioan Phaolô I, nên vị Giáo Hoàng kế vị phải là: • người trẻ trung, khoẽ mạnh,• người có khả năng nắm vững được bộ máy hành chánh vô cùng nặng nề phức tạp của giáo triều cũng như các ĐHY làm việc trong đó.Nhưng vì vào lúc bấy giờ không một vị Hồng Y người Ý nào hội đủ được các tiêu chuẩn trên để có thể chiếm được đa số phiếu, các Đức Hồng Y đã nghĩ ngay đến ĐHY Karol Wojtyla mới 58 tuổi, Tổng Giám Mục Krakau/Ba Lan và đã dồn phiếu cho ngài. Vào ngày 16.10.1978, sau 455 năm, lần đầu tiên một vị Hồng Y không phải người Ý đã lên ngôi Giáo Hoàng với tước hiệu Gioan Phaolô II.«Anh chị em đừng sợ! Hãy mở rộng, vâng, hãy tháo bỏ mọi cửa ngõ cho Đức Kitô. Anh chị em hãy dẹp bỏ mọi ranh giới phân chia giữa các quốc gia!» đó là những lời đầy xác tín của Đức Gioan Phaolô II trong bài giảng đầu tiên bằng tiếng Ý của ngài, và qua đó Đức Tân Giáo Hoàng đến từ Ba Lan đã chiếm được con tim của dân chúng Roma.Mặc dù về phương diện tôn giáo và luân lý, Đức Gioan Phaolô II được đánh giá là bảo thủ, nhưng về phương diện ngoại giao, chính trị và xã hội, v.v… ngài lại được đề cao là người thức thời, cởi mở, thông thoáng, hòa đồng và bình dân. Vì thế, ngài đã trở thành «ngôi sao của các phương diện truyền thông». Ngài tổ chức các cuộc tông du trên khắp thế giới, đến với mọi thành phần Dân Chúa ở từng góc cùng ngõ hẻm sang trọng hay bần cùng của các quốc gia. Chính Đức Gioan Phaolô II đã gây nên những tác động quyết định trong sự sụp đổ và giải thể của chế độ độc tài cộng sản ở Liên Sô và các nước Đông Âu.Vào lúc 21g37 ngày 2.4.2005, sau gần 27 năm trên ngôi Giáo Hoàng điều khiển Giáo Hội hoàn vũ một cách quả quyết và xác tín giữa một thời đại đầy thách đố khó khăn với những trào lưu tục hóa, vô thần, bạo động, khủng bố, v.v… không ngừng đe dọa, Đức Gioan Phaolô II đã ra đi vào chốn vĩnh cửu như một kẻ chiến thắng giữa sự thuơng tiếc không nguôi của tất cả mọi người thiện tâm trên khắp thế giới, bất kể tôn giáo, chính trị, màu da, chủng tộc. Và tất cả đều đã nâng cao khẩu hiệu đầy ấn tượng trong ngày an táng của ngài: «Santo sibito!» - Hãy phong thánh cho ngài ngay!
Lm Nguyễn Hữu Thy
Lượt xem:

Free Web Site Counter

Người đang theo dõi blog này

Powered By Blogger