Làm thế nào để chinh phục được tầng lớp trẻ?
Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013
Một thoáng suy tư trước thềm ĐH Giới Trẻ: Làm thế nào để chinh phục được tầng lớp trẻ?
Làm thế nào để chinh phục được tầng lớp trẻ?
Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009
Thảo nguyên trong tôi (Van vi)

Tôi dạo chơi trên thảo nguyên tươi đẹp. Tôi cảm tưởng như mỗi hơi thở, cử động của mình đều nhuốm một thứ gì đó rất đỗi quen thuộc nhưng không tài nào nhớ ra được.
Vui sướng quá đỗi, tôi chạy đùa với nắng, với cỏ cây, hoa bướm rồi bất ngờ... trượt chân... rơi xuống vực. Tôi thấy người mình hẫng hụt rồi la hét om sòm và... tỉnh dậy. Mồ hôi ướt đầm, tôi rúc vào lòng mẹ, kể cho mẹ nghe giấc mơ vừa mới trải qua. Mẹ cười vui. Tôi chợt hiểu: “Thảo nguyên rộng lớn và tươi đẹp nhất chính là tấm lòng của mẹ”.
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2009
Dụ ngôn những tá điền sát nhân (Lm. Phêrô Mai Tính)
Đề tài 1 : Giải thích dụ ngôn1. Giải thích từ ngữ :- Vườn nho hay cây nho chỉ dân Do Thái. Trong Tân Ước, CG tự ví Ngài là cây nho (Ga 15,1).- Trong bài PÂ hôm nay, ông chủ là TC. Vườn nho là các linh hồn, là Giáo Hội. Những người làm vườn nho là dân Do Thái, tư tế, biệt phái. Các đầy tớ đi thu hoa lợi là các tổ phụ, các tiên tri. Con trai duy nhất là CG.2. Tìm hiểu ý nghĩa :- Ông chủ xây hàng rào, xây tháp canh ý chỉ TC chăm sóc mọi điều.- Các đầy tớ bị bạc đãi 3 đợt ý chỉ là người ác thì càng gia tăng sự ác.Bài học : Hãy biết nghe để trở nên tốt.
Đề tài 2 : Tình Chúa thương1. Chúa Cha gởi CG đến xét theo toàn cảnh của bài PÂ hôm nay là việc làm liều lĩnh và dại dột vì CG sẽ bị giết : Người đời nghĩ khác nhưng TC lại nghĩ khác người đời.2. Xét trên bình diện siêu nhiên thì đó là sự kiên nhẫn và lòng tốt vô biên của TC :- Kiên nhẫn nói lên tình thương của TC.- Nếu ta làm quá thì sẽ bị loại (c 41)Bài học : Hãy đáp trả tình thương của TC.
Đề tài 3 : CG là đá tảng (c 42)1. Một vài danh ngôn :- Thế giới phải chọn một trong hai : Hoặc là cách mạng hoặc là ông Giêsu (Proudhon)- Thăm dò 1963 về CG : CG là đấng cứu thế 52%, CG là thầy chân lý 40% nam và 35 % nữ.- Thăm do 2005 tại Đức : Người đem lại niềm vui cho thế giới : Charlot và CG2. CG và con cái Ngài :- Thánh Augustinô : Hỡi các bạn trẻ, hãy tìm ĐK để được trẻ trung mãi mãi.- Pascal : Chúng ta chỉ hiểu được chúng ta qua ĐK.- Các thánh tử đạo hy sinh để rao truyền danh Chúa.Bài học : Hãy chạy đến với CG.
Lm. Phêrô Mai Tính SB59
Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2009
Hãy làm hòa (Lm. Phêrô Mai Tính)
Mt 5, 20-26 : Hãy làm hòa
Đề tài 1 : Sống công chính (c 20)1. Sự công chính theo người biệt phái :- Sự công chính, theo người biệt phái, là nghiêm chỉnh giữ luật. - Họ quên rằng tình yêu thương mới là điều chính yếu. Hãy nhớ ở trên trời, chỉ còn bác ái mà thôi.2. CG đòi mọi người phải công chính hơn nghĩa là tốt hơn, thánh thiện hơn :- Có người không đồng ý chuyện hơn thua. Nhưng đó là yêu cầu của CG.- Có người quá tốt. Có người thì cần ơn Chúa thật nhiều để cải hóa.Bài học : Hãy sống mỗi ngày một tốt hơn.
Đề tài 2 : Giận hờn1. “Ai giận .. phải đưa ra tòa”(c 22) : - Luật cũ hơi sính bạo lực.- Luật mới cấm bạo lực và thêm tình thương.2. Chúa dạy bỏ hình thức và cần nội tâm hơn : Điều làm tâm hồn ra xấu xa không chỉ ở hành vi giết người nhưng ở lòng hận thù.Bài học : Hãy chú trọng cái tâm hơn hình thức.
Đề tài 3 : Làm hoà trước khi dâng lễ vật (c 24)1. Điều giá trị không phải chỉ giữ luật Phụng vụ (như lễ vật, con vật chọn lọc, hoa quả đầu mùa…)2. Điều kiện đến gần Chúa là mình không là nguyên nhân bất hoà.Bài học : Hãy sống hiếu hòa.
Đề tài 4 : Đi bước trước1. Nếu bất hoà là do ta thì ta phải thu xếp. Nếu bất hoà không do ta, ta đi bước trước để làm hoà thì tốt hơn. Đất không chịu trời thì trời chịu đất.2. Xin lỗi, làm hòa là thái độ can đảm và trưởng thành :- Ta ít nhận lỗi.- Ta hay đổ lỗi cho người khác.Bài học : Hãy cố gắng làm hoà trước.
Lm. Phêrô Mai Tính SB59
Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009
Dám Nói Không (Trần Lan)
Quan Văn Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dụng quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng.
Mọi người thấy vậy khen Văn Trường là ngưỡi chính trực. Từ đó, danh từ "Ngọn đuốc Văn Trường" được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vật dục quyến rũ lòng mình.
***
Những con người anh dũng lướt thắng cám dỗ như Quan Văn Trường quả là hiếm. Càng hiếm hơn nữa, những con người không để cho vật dục quyến rũ. Vì người ta đã quen lối sống dễ dãi, thích hưởng thụ, ham khoái lạc, cho nên tâm trí họ lúc nào cũng là là mặt đất, không đủ sức bật để vượt qua những cám dỗ thử thách, mà vươn lên những ý tưởng cao thượng, những ý nghĩ thánh thiêng.
Dù thế nào đi nữa, cám dỗ vẫn là số phận của con người. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian. Tuy nhiên, thành công hay thất bại cũng tùy thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng các cơn cám dỗ. Số phận đời đời cũng sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cơn thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.
Cuộc đời Đức Giêsu không thiếu những cơn cám dỗ, có lúc nhất thời, có khi dai dẳng. Những cơn cám dỗ ấy hoặc đến từ ma quỷ, hoặc từ người ta, hay có khi lại ngay trong bản thân Người.
Tin Mừng thuật lại các cơn cám dỗ từ ma quỷ : Chúng dụ dỗ Người biến đá thành bánh mà ăn, vì Người đã ăn chay ròng rã 40 đêm ngày. Chúng khiêu khích Người hãy gieo mình xuống từ nóc cao đền thờ. Chúng hứa cho Người vinh hoa lợi lộc các nước, nếu Người sấp mình bái lạy chúng. Cuối cùng, Đức Giêsu đã oanh liệt chiến thắng các cơn cám dỗ ấy, nhờ trưng dẫn các câu Kinh Thánh. Thật vậy, cám dỗ nào cũng bị Người đánh bại bởi các lời Kinh Thánh.
Kinh Thánh chính là khiên thuẫn cho người tín hữu trong mọi cơn cám dỗ. Một khi Lời Chúa đã thấm nhiễm vào con tim, khối óc, và toát ra trong các hành vi của người tín hữu, thì không một cơn cám dỗ nào mà họ không thể vượt qua, không một thử thách nào mà họ không lướt thắng.
Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một chọn lựa. Hoặc là chọn Thánh ý Chúa hoặc là chọn chính mình. Người không có Lời Chúa hướng dẫn, thường hay chọn mình lắm: họ chọn danh vọng cho mình, giàu sang cho mình, khoái lạc cho mình. Khi "cái tôi" đã đầy ứ trong lòng thì Thiên Chúa phải đội nón ra đi.
Muà chay là muà dọn mình để chiến đấu với các cơn cám dỗ. Cám dỗ từ ma quỷ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân mình. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào.
Dù bầu trời đen mênh mông bao trùm địa cầu, thì trong một bờ đá nào đó, cánh hoa mảnh mai vẫn hồn nhiên nở trong đêm khuya. Cánh hoa mỏng manh là thế mà sao dũng mạnh hơn tâm hồn chúng ta nhiều quá! Nếu hoa lá là ngôn sứ của Thiên Chúa, thì sứ điệp chúng ta là: Hãy mềm mại để cho Lời Chúa đưa chúng ta vượt qua đêm mưa bão của cám dỗ, thử thách. Và ngày mai trời lại sáng.
***
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có những kinh nghiệm của những sa ngã tồi tệ. Sa ngã này chưa vực dậy được, thì sa ngã khác lại vùi dập chúng con xuống. Xin cứu giúp chúng con và ban cho chúng con tinh thần kiên vững của Đức Kitô, luôn sống theo lời Chúa và tuân theo thánh ý Người. Amen.
Trần Lan
Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2009
Chay tịnh (Trần Lan)
Gn 9,8-15 ; Ps24 ;1Pet 3,8_22 ; Mc 1, 12-15
CHAY TỊNH
- Đức Giáo Hoàng Grêgoire 13 ấn định 6 tuần lễ trước lễ Phục sinh làm thời gian chuẩn bị, trùng hợp với thời gian 40 ngày, theo Kinh thánh : Tiên tri Môshê và Chúa Giêsu dùng 40 ngày ẩn mình trên núi, trong sa mạc, đẻ chuẩn bị lập Giao Ước mới.
- Đức Giáo Hoàng Phalô 6, với Công đồng Vatican 2, truyền bá vào năm 1969, đã thiết lập luật chay tịnh. Bộ luật công giáo yêu cầu những người ở tuổi từ 18 đến 59 ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.
Việc Ăn Chay có nghĩa là chỉ ăn no một bữa và một bữa tạm cho phép trong ngày hoặc ban sáng hay ban tối. Cũng khuyên những người từ 14 tuổi trở lên ăn chay và kiêng thịt vào hai ngày Thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh.
Tuy nhiên Mùa Chay không phải chỉ Ăn Chay hai ngày kể trên mà phải lắng nghe Lời Chúa, Cầu nguyện đặc biệt Gẫm Đàng Thánh Giá, thi ân trong những công tác từ thiện.
Tóm lại : Tất cả những truyền thống và Nghi thức Mùa Chay đã thay đổi theo thời gian, cũng chỉ vì mục đích là chuẩn bị mừng Lễ Phục sinh, cao điểm của Đức Tin Công giáo.
Lời Chúa hôm nay nhắc lại việc Chúa lập Giao Ước Mới vì tình thương tha thứ của Chúa. Chúa hứa không còn dùng nước lụt như thời Noê để tiêu diệt người tội lỗi, nhưng cho Con Một của Chúa là Chúa Giêsu đến chịu chết thay cho tội nhân, để nhờ Máu Ngài đổ ra mà rửa sạch tội nhân trần.
Con người đã được rửa tội nhờ nước và Chúa Thánh Thần, hãy sống xứng đáng vởi phẩm vị làm con Chúa, theo gương sống của Chúa Giêsu làm người.
Chúa Giêsu đã vào sa mạc 40 đêm ngày. Thời gian dài giữa cảnh thanh tịnh, thiếu mọi tiện nghi kể cả thực phẩm và nước uống. Đó là thời gian chay tịnh. Trong cảnh thiếu thốn, những mơ ước cám dỗ xảy đến : thèm khát ăn uống, cần những tiện nghi và nghĩ đến quyền lợi. Chúa Giêsu đã dùng Lời Kinh Thánh để đánh đổ những cám dỗ. Vì cám dỗ thì nhất thời mà Lời Chúa thì trường tồn. Dùng điều bền vững để đả phá những điều chóng qua, dĩ nhiên là thắng thế.
Bài học của Chúa Giêsu rất quí, rất thực tế cho chúng ta bắt chước.
Vì thế, trong 40 ngày Mùa Chay, mọi người hãy Chay tịnh, tức là hãy hãm mình.
Hãm bớt những đam mê, bớt tham lam của cải, hãm dẹp tính hung hăng, hãm lòng tự cao tự đại, hãm bớt những sở thích thường nhật.
Sự hãm mình sẽ tạo cho mình có được nội lực làm chủ bản thân khi cần thiết
Chay tịnh thể xác là hãm mình. Nhưng còn thứ chay tịnh tinh thần cũng rất quan trọng. Vì khi con tim chay tịnh thì không còn chỗ cho hận thù, chia rẽ, ghen ghét, ác ý, lạnh lùng. Một con tim chay tịnh chỉ có nơi con người biết yêu thương, quảng đại và nhạy cảm trước cảnh đau khổ, bất công nơi anh chị em đồng loại.
Vì vậy, Mùa Chay tịnh 2009, xin nhắn với mọi người vài điều vài điều :
- Hãy sống đơn giản, tránh kiểu sống nô lệ phương tiện vật chất và chạy theo thời trang.
- Hãy nhận biết mình và biết người ( tri bỉ tri kỷ) : mình được Chúa cho cái này, người ta cũng được Chúa ban cho ơn khác, tránh kiêu căng coi mình hơn thiên hạ….
- Lắng nghe, đọc và gẫm suy Lời Chúa.
Trần Lan
Thứ Hai, 8 tháng 12, 2008
Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội - Tín Điều

Đức Mẹ Hiện Ra Tại Lourde (Lộ Đức), Nước Pháp
Vào trưa ngày 11 tháng 2 năm 1858, Bernadette, Jeanne Abadie và Marie Toinette cùng nhau tiến về bờ suối Gave nhặt củi. Đến gần hang Massabielle, các em phải lội qua giòng nước để sang bờ bên kia. Hai bạn đã qua suối, còn Bernadette vì bệnh nên sợ nước lạnh, cứ ngập ngừng chưa chịu lội sang. Bernadette kể:
"Tôi đang định tháo giầy để lội xuống nước, thình lình tôi nghe tiếng gió ù-ù thổi mạnh như sắp có cơn bão lớn. Nhìn trước nhìn sau không thấy gì, tôi tiếp tục cởi vớ để lội qua suối, thì tiếng gió lại nổi lên. Nhìn thẳng về hang núi, tôi thấy một thiếu nữ rất xinh đẹp đứng đó, trạc độ 17 tuổi, mặc áo trắng dài che gần hết đôi chân, mỗi đầu ngón chân là một bông hồng óng ánh. Thiếu nữ thắt lưng xanh, tay đeo tràng chuỗi, hạt trắng hạt vàng, giống những bông hồng ở nơi chân. Trên đầu trùm khăn trắng xoã xuống thân người. Tưởng rằng nhìn lầm, tôi dụi mắt nhìn lại nhưng vẫn thấy là bà ấy. Sợ quá, tôi vội thọc tay vào túi lấy ra xâu chuỗi và quì xuống lần hạt, xin Đức Mẹ đến cứu giúp. Bà cũng lấy xâu chuỗi đeo trên cách tay mình và bắt đầu lần hạt với tôi. Lần hạt xong, Bà làm hiệu cho tôi đến gần, nhưng sợ quá, tôi chạy vội qua suối, quơ đống củi mà các bạn đã xếp đống ở đó đem về nhà. Bà đẹp biến đi và hai bạn cũng không hay biết chuyện gì xảy ra cho tôi cả. Trên đường về, thấy nét mặt của tôi khác thường, nên Marie gạn hỏi mãi, nhưng tôi không chịu nói. Tới khi về gần đến nhà tôi mới chịu thuật lại chuyện lạ đã xẩy ra cho mình. Không giữ được bí mật, em Marie đi nói cho mẹ nghe. Thế là tôi bị quở trách nặng lời suốt buổi và mẹ còn cấm chúng tôi từ nay không được đến đó nữa".
Mãi đến hai ngày sau (14 tháng 2 năm 1858), như có tiếng thúc bảo, Bernadette mới dám mở miệng xin mẹ cho ra hang núi cùng với mấy người bạn đã được nghe kể. Năn nỉ mãi bà mới cho phép đi. Thình lình Bernadette la lên:
- Bà đến! Bà đến rồi kìa.
Theo lời người bạn bảo:
- Nước-Thánh sẽ xua đuổi ma qủi hiện hình trêu ghẹo, nên Bernadette đã lấy Nước-Thánh đem theo rẩy lên bà. Bà đẹp chẳng sợ, lại tỏ ra hài lòng và mỉm cười với mọi người. Thế là người ta đoán là Đức Mẹ hiện ra. Bernadette cầu nguyện sốt sáng và bắt đầu ngất trí, mãi đến khi được đưa về nhà Bernadette mới tỉnh. Tiếng đồn lại càng lan rộng thêm về điềm lạ ấy.
Lần thứ ba Đức Mẹ hiện ra ngày 18 tháng 2 năm 1858. Lần này có nhiều người hơn theo Bernadette để xem sự lạ. Bernadette đem theo giấy viết để xin Đức Mẹ ghi những gì Mẹ muốn dạy, nhưng Đức Mẹ không viết mà chỉ cho biết Bernadette sẽ phải khổ nhiều ở trần gian, nhưng sẽ được hạnh phúc trên trời. Mẹ lại xin Bernadette trở lại gặp Mẹ 15 ngày liền nữa. Ba lần hiện ra vừa qua chỉ là chuẩn bị cho những lần hiện ra sau này.
Những lần hiện ra kế tiếp là những lần Bernadette ngất trí và xuất thần, người xem chỉ thấy những cử chỉ lạ nơi thân xác em, còn nội dung chỉ được tỏ ra dần dần. Những lần này cũng là để các vị liên hệ và nhà chức trách kiểm chứng sự thể. Một vài lời dạy Bernadette nhận được như:
- Các con hãy cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại.
- Các con hãy làm tròn bổn phận hàng ngày.
- Hãy cầu nguyện cho những người cứng lòng tin, cho những người cố tâm phá hoại Đạo Chúa, được ơn thống hối ăn năn... .
- Hãy ăn năn đền tội.
Lần thứ 9 hiện ra, Đức Mẹ chỉ cho Bernadette lấy tay cào bới chỗ đất khô trước mặt em, để khơi nguồn một suối nước có phép chữa bệnh cho những ai vững niềm tin cậy.
Lần thứ 10 (ngày 26 tháng 2 năm 1856), Đức Mẹ hiện ra và truyền:
- Con hãy hôn đất ăn năn thay cho người có tội.
Bernadette cũng làm hiệu cho mọi người cúi xuống hôn đất ăn năn tội.
Lần thứ 11 hiện ra, Đức Mẹ bảo Bernadette về thưa cùng cha sở
- Xây cho Mẹ một đền thờ ở đây để Mẹ thi ân cho nhân loại.
Chúa Nhật ngày 28 tháng 2 năm 1858, trên 2000 người tựu lại để xem sự lạ. Lần này Bernadette thưa Đức Mẹ về chuyện đã xin với cha sở xây nhà thờ như Mẹ dạy. Đức Mẹ mỉm cười với lời thân thưa ấy.
Lần thứ 14 Đức Mẹ nói:
- Mẹ muốn người ta đến đây thăm viếng Mẹ.
Từ đó con cái muôn phương trên thế giới đã đến đây thăm viếng Mẹ không ngớt.
Lần thứ 15 Đức Mẹ chỉ hiện ra cho Bernadette chiêm ngắm và không làm dấu lạ nào khác.
Lần thứ 16 Đức Mẹ tỏ mình ra:
- Ta là Đấng Chẳng Mắc Tội Tổ Tông.
Đây là lần thứ hai Đức Mẹ tỏ cho nhân loại biết về ơn đặc biệt này của Mẹ. (Lần thứ nhất Đức Mẹ đã tỏ ra cho chị Catharine Labouré trong tu viện Rue Dubac, Paris).
Lần thứ 17 một phép lạ xẩy ra là lúc Bernadette xuất thần, tay đang cầm đèn cầy cháy sáng, các bác sĩ thử nghiệm đã úp hai bàn tay Bernadette lên ngọn lửa mà tay em không bị đốt cháy.
Lần thứ 18 cũng là lần hiện ra sau hết, Đức Mẹ đến chỉ để an ủi và mừng cho Bernadette trong ngày em được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng lần đầu tiên trong đời.
Tóm lại, Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadette cả thẩy 18 lần để nhắc nhở loài người: Năng chạy đến với Mẹ, ăn năn đền tội, lần hạt Mân Côi để làm nguôi đi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vì tội lỗi nhân loại đã xúc phạm đến Ngài. Ngoài ra còn để Mẹ thi ân cứu giúp những ai chạy đến cùng Mẹ nữa.
_________________________________________
1. Lịch Sử Tín Ðiều
Thánh Lễ kính mầu nhiệm Vô Nhễm đã có từ giữa thế kỷ thứ VII và thứ VIII tại Ðông Phương. Các vị giảng thuyết nói về sự thai sinh Vô Nhiễm, thánh thiện mà không nêu lên vấn đề nào khác.
Vào thời Trung Cổ, Thánh Lễ đã nhập vào Tây Phương, và từ thế kỷ thứ IX, nhiều dòng tu ở Ðức và cả La mã đã mừng kính.
Vào năm 1060, các Thầy Dòng đem vào Anh Quốc và giữa năm 1127 và 1128, Thánh Lễ được lan rộng trong cả Âu Châu, mặc dầu Thánh Bênađô tỏ ra dè dặt trước "sự mới lạ" ấy.
Thoạt đầu, đây là một phong trào sùng kính sốt sắng nhưng thiếu sự suy tư, nhất là bị ảnh hưởng của những ý kiến mù mờ của thời đại.
Người ta tin tưởng với Thánh Augustinô rằng việc giao hợp vợ chồng, cả trong hôn phối Kitô giáo, là một hành động trác táng lưu chuyển tội tổ tông. Và như vậy, Mẹ Maria sinh bởi sự giao hợp của Cha Mẹ, làm sao thoát khỏi định luật ấy. Vả lại, người ta có một quan niệm không mấy khoa học về việc thai sinh, như thể xác được cưu mang trước rồi linh hồn đến trong khoảng cách sau: Linh hồn con trai trước 40 ngày, linh hồn con gái phải lâu hơn mới hợp với thể xác vì bản tính con gái yếu kém!
Các nhà thần học lại không biết làm sao để thoát khỏi cái vòng lý luận sau đây: Chúa Kitô là Ðấng Cứu Chuộc hết mọi người. Nếu nói rằng Ðức Mẹ không vướng mắc tội lỗi cho dầu chỉ nói đến tội tổ tông thôi thì Chúa Kitô không còn là Ðấng Cứu Chuộc toàn thể nhân loại. Chương trình Cứu Ðộ có một kẽ hở. Và tất cả các nhà thần học thế kỷ XIII, kể cả Thánh Tôma Aquinô đều nghĩ rằng Ðức Mẹ vẫn phần nào lệ thuộc tội lỗi; ít là trong thẩ xác khi thai sinh.
Cuối thế kỷ XIII, nhà thần học Duns Scott đã có công học hỏi và đảo ngược lại lý luận trên. Ông cho rằng đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Ðức Mẹ chẳng những không làm tổn thương đến vinh dự Chúa Kitô và công cuộc cứu chuộc của Ngài mà, trái lại, càng làm tỏ rạng sự sung mãn của công cuộc ấy. Vì Ðấng cứu chuộc hoàn hảo phải là Ðấng không những có thể Chữa Lành tội lỗi mà còn Ngăn Ngừa tội lỗi.
Cũng như một người mẹ tỏ ra có một tình thương hữu hiệu khi Bà tắm rửa cho đứa con vừa rơi vào đống bùn; nhưng nếu Bà biết ngăn ngừa kh6ng để cho con rơi vào bùn thì tình thương của Bà càng linh nghiệm hơn.
Nhờ sự trực giác sâu xa ấy, Duns Scott đã đổi ngược thế cờ, giải quyết được vấn nạn được coi là nan giải trước đây về sự thánh thiện nguyên thủy nơi Ðức Mẹ. Ông đã minh chứng rằng giáo lý Ðức Mẹ Vô Nhiễm có thể chấp nhận được và hơn nữa đặc ân ấy tương xứng với địa vị của Mẹ Thiên Chúa.
Sau ông, giáo thuyết lan rộng như vết dầu loang.
2. Công Bố Tín Ðiều
Sau nhiều thế kỷ học hỏi, nghiên cứu, tranh luận nữa, vấn đề đã được Ðức Giáo Hoàng Piô IX giải quyết khi Ngài công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngày mồng 8 tháng 12 năm 1854.
Lời công bố nhắc lại những lời của vị Giáo Hoàng Alexandre VII (1661) năm xưa, khi ngài đặt liên hệ giữa việc cứu chuộc toàn diện và đặc ân vô nhiễm của Ðức Mẹ.
Lời công bố không phản lại việc cứu chuộc toàn diện mà còn làm sáng tỏ hơn: Mẹ Maria đã được Chúa cứu rỗi do công nghiệp tiền ứng và hồi tố của Chúa.
Nguyên văn Lời Công Bố như sau:
"Từ giây phút đầu tiên khi tượng thai, do một đặc ân và ưu huệ của Thiên Chúa toàn năng và dựa trên công nghiệp Chúa Giêsu Kitô Ðấng Cứu Chuộc nhân loại, Ðức Trinh Nữ Maria được gìn giữ khỏi vướng mắc mọi tỳ ố, tội tổ tông truyền". (Piô IX - sắc lệnh Munificentissimus ngày 8 tháng 12 năm 1854).
3. Căn Bản Thánh Kinh
Như đã nói, Tín điều này không được ghi rõ trong Thánh Kinh.
Nhưng Tín điều được tiềm ẩn trong nguồn mạc Khải, trong tư tưởng Dân Chúa được coi là một vị hôn thê. Tiên tri Ôsê lên tiếng mạt sát dân được tuyển chọn như một cô gái lăng loàn, một dâm phụ (2,4-7).
Nhưng rồi người nhìn thấy một cuộc đổi mới và ca tụng như một vị hôn thê.
"Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãita đính hôn với ngươi bằng công chínhCông minh, nhân nghĩa xót thươngTa sẽ đính hôn với ngươi bằng đức trung tin và ngươi sẽ biết Gia vê" (Ôsê 2,4-22)
Hình ảnh người dâm phụ dần dần được xóa mờ hẳn để lộ hiện chân dung người hôn thê:
"Em mỹ miều, hiền thê ơiNơi em không có một tì vết..." (Diệu ca 4,7-8).
Lời Thiên Chúa phán hứa sẽ thực hiện. Nhưng thực hiện ở đâu? Phải chăng ở nơi Giáo Hội? Chưa hẳn vì Giáo Hội cũng bao gồm rất nhiều người tội lỗi. Lời phán hứa được thể hiện nơi Ðấng đã được tuyển chọn để làm Mẹ Chúa Kitô, của Giáo Hội và của công cuộc tạo dựng mới. Ðó là Ðức Maria, Ðấng thánh thiện và không mặc tì ố.
Như vậy, mầu nhiệm vô nhiễm đã có căn bản tiềm ẩn trong Thánh Kinh và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội càng ngày càng ý thức hơn và long trọng tuyên bố thành tín điều, như chiếc nụ hồng đầu xuân hé mở thành một cánh hoa xinh tươi. Mẹ là bà Evà mới trong cuộc tạo dựng mới. "Mẹ trẻ trung hơn tội lỗi, hơn nòi giống đã sinh ra Mẹ" - Plus jeune que le péché, plus jeune que la race dont elle est issue" (Bernanos - Journal d'un Curé de campagne, 1936).
4. Thánh Tích
Hôm ấy, ngày 25 tháng 3 năm 1858, ngày Lễ Truyền Tin, Cô Bernađetta thức dậy thật sớm. Cô cảm thấy có một sức mạnh thúc đẩy cô ra hang Ðá Lộ Ðức. Cha mẹ Cô không muốn cho cô đi, nhưng biết rằng con đang bị một sức mạnh thúc đẩy như không chống lại được. Từ 5 giờ sáng, Cô đã lên đường đi ra bộng đá.
Lần này, cô nhất quyết phải hỏi cho bằng được tên của "Bà lạ". Mấy lần trước Bà chỉ mỉm cười, đem bút mực ra xin Bà viết Bà cũng chỉ mỉm cười. Nhưng lần này, cô phải trả lời cho Cha Sở.
Sau khi lần hạt, Bà lạ tiến ra gần cửa hang. Bernađetta sung sướng và lấy hết can đảm nói lên câu mà cô đã dọn sẵn bằng thổ ngữ.
- Thưa Bà. Xin Bà làm ơn nói cho con biết Bà là ai?
Bà lạ chỉ mỉm cười. Bernađetta hỏi lại lần thứ hai, thứ ba. Bà vẫn mỉm cười. Nhưng lần này cô cương quyết phải hỏi cho kỳ được vì đó là điều kiện của Cha Sở, nếu Bà muốn chó một nhà thờ như Bà xin.
Sau lần hỏi thứ tư. Bà lạ không cười nữa.
Bà mở hai tay ra chỉ xuống đất. Rồi Bà chấp tay lại ngang ngực ngước mắt nhìn trời và nói:
- Que soy era Immaculada Concepciou"
Rồi Bà biến đi trong vùng ánh sáng.
Mặt Bernađetta trở lại vẻ hồng hào vui tươi. Cô chạy ngay về nhà Xứ, vừa chạy vừa lẩm nhẩm trong miệng kẻo sợ quên mất lời Bà lạ vừa nói.
Immaculada Coun-cetiou
Immaculada Coun-cetiou.
Cô hơi líu tíu với hai chữ cuối cùng. Vừa vào nhà Cha Sở, cô thốt ra ngay:
"Que soy era Immaculada Concepciou".
Cha Sở giật mình như muốn ngã. Ngài biết rằng Bernađetta không thể tự mình bày ra. Cha như bị một ánh sáng làm hoa mắt... Nhưng rồi ngài chấn tĩnh, lấy lại vẻ nghiêm khắc thường có và nói với Cô bé:
- "Một Bà không thể mang tên đó. Cô lầm! Cô có hiểu câu đó không?
Bernađetta nhẹ lắc đầu.
- "Nếu Cô không hiểu sao cô lại nói?"
- "Con lập đi lập lại trên suốt đường về".
Cha Peyramale cảm động, cố nén giòng lệ như muốn trào ra.
Bernađetta đứng im lặng rồi lẩm bẩm như một lời van xin:
- "Thưa Cha, Bà ấy vẫn muốn Cha xây một nhà thờ".
Cha Sở vận dụng tất cả uy quyền như để bảo tồn danh dự:
- "Cô đi về đi, ta sẽ gặp lại lần khác.
Bernađetta không hiểu vì sao Cha Sở có vẻ phật ý. Cô tự hỏi câu ấy có nghĩa gì? Ngày Lễ mồng 8 tháng Chạp, chắc Cô đã nghe giảng những bài giảng bằng Pháp ngữ mà cô mù tịt tiếng Pháp. Cô chỉ biết thổ ngữ. Về đến nhà Cô mới được Ông Estrace giải thích.
Thì ra Bà lạ đã nói tên:
Que soy era Immaculada Concepciou, là thổ âm miền Pyrênê, theo Pháp ngữ là:
Je suis l'Immaculée Conception.
Ta là Ðấng chẳng hề mắc tội Tổ Tông truyền.
Ðó là Tín điều Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã công bố 4 năm về trước trong Tông Huấn Munificentissimus ngày 8 tháng 12 năm 1854:
"Ta công bố rằng Ðức Trinh Nữ Maria đã được gìn giữ khỏi mọi tì ố của tội Tổ Tông truyền... ngay từ giây phút đầu tiên khi mới tượng thai".
Ðây là lần hiện ra thứ XVI. (Phỏng theo La Vie de Bernadette của R. Laurentin. Desclée De Brouwer 1978).
Thứ Hai, 24 tháng 11, 2008
Người sống sót cuối cùng trên tàu Titanic qua đời
Tàu Titanic rời Southampton, England ngày 10/4/1912.
(Dân trí) - Lillian Gertrud Asplund, người Mỹ cuối cùng sống sót trong thảm kịch đắm tàu Titanic năm 1912, đã qua đời tại nhà riêng ở Boston, thọ 99 tuổi, ban tổ chức tang lễ gia đình bà hôm qua cho biết.
Khi con tàu “không thể đắm” Titanic đâm phải một tảng băng trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương, Asplund mới chỉ 5 tuổi. Trong thảm kịch đó Asplund đã mất cha và 3 anh em trai. Mẹ của Asplund cùng một người em trai khác, Felix, lúc đó 3 tuổi, may mắn thoát chết khi Titanic chìm xuống đại dương sáng sớm ngày 15/4/1912.
Bà Asplund là người sống sót cuối cùng có thể nhớ tường tận về vụ đắm tàu. Tuy nhiên, bà luôn lánh xa công chúng và hiếm khi nhắc lại kỷ niệm đau buồn đã qua. Bà làm thư ký ở Worcester hầu như suốt cuộc đời mình, và không lấy chồng để chăm sóc mẹ, người luôn bị ám ảnh bởi thảm kịch kinh hoàng Titanic.
Ít nhất 2 người khác trên tàu Titanic năm nào vẫn còn sống sót. Tuy nhiên, họ còn quá nhỏ để biết chuyện gì đã xảy ra. Những người đó là Barbara Joyce West Dainton, ở Truro, Anh, khi đó mới 10 tháng tuổi; và Elizabeth Gladys, Southampton, Anh, thậm chí mới được 2 tháng tuổi.
Năm định mệnh 1912, gia đình bà Asplund đã lên tàu Titanic từ Southampton, England để trở về Worcester, sau nhiều năm ở Thuỵ Điển, đất tổ của gia đình.
Mẹ của Asplund đã miêu tả vụ đắm tàu trong một cuộc phỏng vấn với tờ Telegram & Gazette ngay sau khi trở về nhà cùng hai con. Bà Selma Asplund cho biết, gia đình bà đã chạy lên trên tầng cao của con tàu khi nó đâm phải tảng băng. “Tôi có thể nhìn thấy các tảng băng từ rất xa. Trời lạnh và những tảng băng nhỏ dính sát vào nhau. Đứa con nhỏ của tôi, Lillie, theo tôi. Còn chồng tôi thì nói: “Đi lên trên đi, chúng ta sẽ lên một chiếc tàu nhỏ”. Ông ấy đã mỉm cười khi nói vậy.”
Bà Selma Asplund mất năm 1964, 52 năm sau khi Titanic chìm xuống biển khơi, thọ 91 tuổi. Còn Felix Asplund mất ngày 1/3/1983, thọ 73 tuổi.
PV
Theo AP
BÍ ẨN VỀ CON TÀU HUYỀN THOẠI TITANIC - SỐ PHẬN CÁC HÀNH KHÁCH ?
By blazhuy. Friday, 14. September 2007, 18:00:56
THẾ GIỚI QUANH TA
Giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ gần đây xôn xao về một số vụ mất tích - tái hiện một cách thần bí. Nhiều người cho rằng hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian”.Ngày 14/4/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước.Ngày 24/9/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập.Còn tiếp => Read more . plz
Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói: “Tôi tên là Wenni Kate, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”. Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm. Kate được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn. Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi.Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người: Chẳng lẽ từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà Kate không hề già đi chút nào? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Kate nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra.
Ngày 9/8/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía Tây Nam cách núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Iderlan, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng chìm xuống biển cùng với con tàu . Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60 tuổi. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/9/1912.
Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/9/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định, người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.
Vậy bạn giải thích sao cho việc này ?
Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2008
Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008
Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008
BÍ MẬT FATIMA
Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân mình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rớt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các quỷ dữ có thể được phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiếp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suốt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Ðấng đã báo trước cho chúng con trong lần Hiện ra thứ nhất khi hứa rằng Ngài đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết điếng vì sợ hãi và kinh khiếp.
BI MẬT THỨ HAI:
Sau đó mắt chúng con hướng về Ðức Bà. Ngài hết sức âu yếm và buồn bã nói với chúng con: “Chúng con đã thấy hoả ngục, nơi mà các linh hồn tội lỗi đáng thương đi vào. Ðể cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm. Nếu điều Mẹ nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu và sẽ có hoà bình. Chiến tranh sẽ kết thúc: nhưng nếu dân chúng không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tranh tồi tệ sẽ xảy ra trong triều Giáo hoàng của đức Piô XI. Khi chúng con thấy một đêm tối được chiếu sáng bởi một ánh sáng chưa từng biếât, chúng con hãy biết rằng đó là dấu chỉ lớn lao mà Thiên Chúa ban cho các con để biết rằng Người sắp trừng phạt thế gian vì những tội ác của nó, bằng chiến tranh, đói kém, và những bách hại đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha. Ðể tránh điều này, Mẹ sẽ xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, và Hiệp thông đền tạ vào ngày Thứ Bảy đầu tháng. Nếu lời cầu xin của Mẹ được chấp nhận, Nước Nga sẽ hoán cải, và sẽ có hoà bình; nếu không, nó sẽ phổ biến những lầm lạc trên khắp thế giới, gây nên những chiến tranh và bách hại cho Hội Thánh. Những kẻ lành sẽ bị giết hại; Ðức Thánh Cha sẽ đau khổ nhiều; nhiều quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ toàn thắng. Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, và nó sẽ được hoán cải, và một giai đoạn hoà bình sẽ được ban cho thế giới”.
BI MẬT THỨ BA:
Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian: chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!'. Và chúng con thấy trong một luồng sáng lớn là Thiên Chúa: ‘một cái gì tương tự như cách người ta xuất hiện trong một tấm gương khi người ta đi ngang qua’ một Giám mục bận đồ trắng ‘chúng con có cảm nhận đó chính là Ðức Thánh Cha’. Các Giám mục, các Linh mục, các tu sĩ nam nữ khác leo lên một ngọn núi dốc thẳng, trên đỉnh núi có một Thánh giá lớn làm bằng thân cây thô nhám như thể của một cây bần với vỏ cây; trước khi đến đó, Ðức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn, một nửa bị tàn phá và một nửa rung chuyển, với bước chân nghiêng ngả, buồn khổ vì đau đớn và ưu phiền, ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thân xác ngài gặp trên đường; khi đã lên đỉnh núi, quỳ dưới chân Thánh giá lớn, ngài đã bị một nhóm lính giết hại bằng đạn và mũi tên, và cùng một cách thức như thế các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ khác, và các người giáo dân thuộc mọi giai cấp và địa vị xã hội khác nhau lần lượt bị giết hại. Bên dưới hai cánh tay của Thánh giá có hai Thiên thần, mỗi vị cầm trong tay một chiếc bình bằng pha lê, trong đó các ngài hứng máu của các vị Tử đạo và với máu đó các ngài rảy trên các linh hồn đang tiến về Thiên Chúa.
Mệnh Lệnh Ðức Mẹ Fatima:
Năm 1917, khi hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima, Ðức Mẹ đã truyền dạy phải thực hiện 3 mệnh lệnh Fatiam để cứu nhân loại và cức các linh hồn khỏi lửa luyện ngục. Ba Mệnh lệnh đó là:
1. Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống 2. Tôn sùng Trái Tim vẹn sạch Ðức Mẹ 3. Lần Chuỗi Mân côi
Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008
Một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử Giáo Hội
Lm Nguyễn Hữu Thy
THỂ LOẠI
- Bài hát PT/TNTT - Sinh hoạt (3)
- Chuyện... (50)
- Cuộc sống (18)
- Đọc sách online (1)
- Hình ảnh (27)
- Kĩ năng lều trại (1)
- Một số phương pháp (3)
- Nút dây - Morse - Semaphore (1)
- Sinh Hoạt Thiếu Nhi (13)
- suy niệm (19)
- Tài liệu (18)
- Thánh Kinh 52 tuần (55)
- thông báo (11)
- Tin tức (58)
- Trò chơi (1)
- Video clip (27)










