Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Suy niệm lời Chúa, thứ 2 tuần 16 thường niên năm C

Lời Chúa:
Mt 12,38-42
Bấy giờ có mấy kinh sư và mấy người Pharisêu nói với Đức Giêsu
rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ." Người đáp: "Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giôna. Quả thật, ông Giôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy.
Trong cuộc phán xét, dân thành Ninivê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giôna rao giảng; mà đây thì còn hơn ông Giôna nữa. Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ
tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Salômôn; mà đây thì còn hơn vua Salômôn nữa.

Suy niệm:

Phân tích

Những người Biệt phái không nhận Chúa Giêsu là Đấng Messia vì họ cố chấp, nhưng họ viện cớ là vì họ không thấy dấu lạ. Thực ra Chúa Giêsu đã cho họ biết bao nhiêu dấu lạ mà họ có chịu thấy đâu. Vì thế Ngài nói chẳng cần cho họ dấu lạ nào khác ngoài dấu lạ Giôna, tức là ám chỉ Ngài sẽ chết và sống lại. Nhưng Ngài cũng biết là dấu lạ đó cũng chẳng thể mở mắt họ nổi, cho nên Chúa Giêsu bảo đến ngày phán xét tội của họ sẽ rất nặng.

Suy gẫm

1. “Chúng tôi muồn thấy Thầy làm một dấu lạ.” Nhiều lần chúng ta cũng mong Chúa làm phép lạ tỏ tường. Chẳng hạn hiện ra trước mặt nhiều người. Chúng ta nghĩ nếu có những dấu lạ ấy thì mọi người đều tin thờ Chúa.

Thực ra Chúa thừa sức làm những phép lạ như thế. Nhưng những dấu lạ như thế sẽ là một áp lực, một bó buộc khiến người ta phải tin thờ Ngài, không cách nào khác được. Và như thế con người không còn được tự do, Chúa không phải là một Thiên Chúa yêu thương mời gọi nữa.

Chúa ít khi làm dấu lạ, nhưng thích ban dấu chỉ. Những dấu chỉ kín đáo, đơn sơ là những tiếng mời gọi nhẹ nhàng và yêu thương. Và những dấu chỉ như thế có rất nhiều. Chỉ cần ta biết mở mắt mở lòng ra là có thể thấy ngay.

2. Một cụ già suốt ngày ngồi trên ghế xích đu và thề sẽ không bao giờ đứng dậy cho đến khi gặp được Chúa. Một cô bé đang chơi với một quả bóng thấy thế liền hỏi:

- Suốt ngày cụ ngồi đong đưa trên chiếc ghế này để chờ đợi Chúa sao?

- Đúng thế, trước lúc nhắm mắt lìa đời ta muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa. Ta chỉ cần một dấu chỉ. Nhưng tới nay ta chưa nhận được dấu chỉ nào.

- Thưa cụ, Chúa cho cụ một dấu chỉ mỗi khi cụ hít thở, mỗi khi cụ ngửi một cánh hoa thơm, mỗi khi cụ nghe tiếng chim hót, mỗi khi có một đứa trẻ chào đời. Chúa cho cụ một dấu chỉ mỗi khi cụ cười hay mỗi khi cụ khóc, mỗi khi cụ cảm thấy nước mắt lăn trên gò má cụ. Chúa ban cho cụ một dấu chỉ trong mưa gió và khi thời tiết thay đổi. Có biết bao nhiêu dấu chỉ nhưng tại sao cụ chưa tin? Cụ ơi, Chúa ở trong cụ, Chúa ở trong cháu. Không phải cần tìm kiếm vì Ngài luôn có đó. Má cháu luôn căn dặn cháu: “Này Lily, nếu con tìm những cái vĩ đại thì con đã nhắm mắt lại rồi, bởi vì thấy Chúa là thấy những điều đơn sơ. Thấy Chúa là thấy sự sống trong tất cả.”

Cụ già ngạc nhiên khi thấy những lời như thế thốt ra từ môi miệng một cô bé nhỏ xíu. Phần cô bé, cô vừa chạy vừa nói lớn: “Má cháu luôn căn dặn: này Lily, nếu con tìm những cái vĩ đại thì con đã nhắm mắt lại rồi, bởi vì thấy Chúa là thấy những điều đơn sơ. Thấy Chúa là thấy sự sống trong tất cả.”

3. Vấn đề của chúng ta ngày nay không phải là không có dấu chỉ mà là không biết đọc ý nghĩa của những dấu chỉ đó. Có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có trí mà không hiểu. Chẳng hạn, tôi có hiểu ý nghĩa những dấu chỉ mà Chúa cho xảy ra nơi chính bản thân mình không: tôi bị bệnh… tôi bị người ta phê phán… tôi vừa gặp thất bại… Tại sao? Qua những điều ấy, Chúa muốn nói gì với tôi?

4. Qua hình ảnh Giôna để loan báo sự vâng phục cho đến chết của Ngài, Chúa Giêsu muốn nói đến con đường mạc khải của Thiên Chúa, đó là con đường tình yêu. Ngài đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, nghĩa là có tự do và biết yêu thương, cho nên Thiên Chúa đã chọn con đường yêu thương để đến với con người. Ngài đã hóa thân làm người, sống trọn vẹn kiếp người, và cuối cùng chịu chết treo trên Thập Giá, tất cả để trở thành lời mời gọi đối thoại trong yêu thương.

Mãi mãi Thiên Chúa chỉ đến với con người qua dấu chỉ của tình yêu. Người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhận ra những dấu chỉ yêu thương ấy trong cuộc sống của mình, không những qua những chúc lành và may mắn, mà còn qua những mất mát, khổ đau thua thiệt nữa. Nhận ra những dấu chỉ yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc sống, người Kitô hữu cũng được mời gọi để trở thành những dấu chỉ yêu thương của Ngài cho mọi người chung quanh. Trở thành dấu chỉ yêu thương có nghĩa là chấp nhận sống vâng phục và vâng phục cho đến chết như Chúa Giêsu. Trở thành dấu chỉ yêu thương giữa tăm tối của cuộc sống, giữa đọa đày bách hại, người Kitô hữu vẫn tiếp tục chiếu sáng trong tín thác, yêu thương, phục vụ, tha thứ.

Cầu nguyện:

Xin cho lý tưởng chứng nhân luôn bừng sáng trong chúng ta, để dù sống trong đau khổ, thử thách, chúng ta vẫn trung thành với tình yêu Thiên Chúa. Amen.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

Suy niệm lời Chúa, thứ 7 tuần 15 thường niên năm C

Người Tôi Trung hiền lành
Lời Chúa (Mt 12,14-21):
Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu. Biết vậy, Đức Giêsu lánh khỏi nơi đó, dân chúng theo Người đông đảo và Người chữa lành hết. Người còn cấm họ không được tiết lộ Người là ai. Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói: "Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu: Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân. Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người."

Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu:
Ta hài lòng về Người
(Mt 12, 18)

Suy niệm:
Mặc dù bị các người Biệt phái Pharisiêu chỉ trích, Chúa Giêsu không trả đũa nhưng “lánh đi nơi khác” (c15);
Dù Ngài đã làm những phép lạ hiển hách và được dân chúng ngưỡng mộ, Ngài vẫn khiếm tốn “cấm họ không được tiết lộ Ngài với ai” (c16).
Thái độ bất bạo động đó làm cho Ngài rất giống với hình ảnh Người Tôi Tớ hiền lành mà Isaia đã tiên báo: “Ngài sẽ không cãi vã, không to tiếng. Chẳng ai nghe thấy Ngài lên tiếng giữa phố phường, cây lau bị dập Ngài không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét Ngài chẳng nỡ tắt đi…”

Suy gẫm:
1. Những người Biệt phái đã bao phen chống đối Chúa Giêsu. Hôm nay họ còn bàn mưu hãm hại Ngài. Chúa Giêsu thừa khả năng chống lại họ, nhưng Ngài rời nơi ấy tránh đi nơi khác. Đối đầu và trả đũa không phải là phương cách hay nhất. Khi nào còn có thể nhường thì nhường, còn có thể nhịn thì nhịn.

2. “Ai có bệnh đều được Ngài chữa lành. Ngài cấm họ đừng nói cho ai biết Ngài.” Chúa không muốn phô trương những phép lạ của Ngài, một đàng không muốn người ta hiểu sai về tư cách Đấng Messia của Ngài, mặt khác vì khiêm tốn như lời Ngài đã dạy: “Đừng phô trương công đức trước mặt người ta.”

3. “Ngài sẽ không cãi vã, không to tiếng. Chẳng ai nghe thấy Ngài lên tiếng giữa phố phường.” Xin Ngài dạy cho con được như Ngài, không thích to tiếng, cãi cọ, ăn thua…

4. “Cây lau bị dập Ngài không đành bẻ gẫy; tim đèn leo lét Ngài chẳng nỡ tắt đi…” Xin Chúa dạy con noi gương Chúa, trân trọng bảo vệ, khuyến khích và nuôi dưỡng những gì tốt đẹp còn lại trong lòng những kẻ mà người ta đã cho là hư đốn.

5. Chúa Giêsu biết rõ những người Biệt phái ghen ghét và mưu hại Ngài, Ngài đã kín đáo rời khỏi miền Galilê để tiếp tục sứ mệnh tại nhiều nơi khác, Ngài còn cấm những kẻ theo Ngài không được tiết lộ cho thiên hạ biết Ngài là ai. Thánh Matthêu đã nhận ra trong sự kiện này lời tiên tri Isaia đã ứng nghiệm, như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay.

Đấng Thiên sai là Con Thiên Chúa, Thần Khí Thiên Chúa luôn ngự trên Ngài, nhưng theo lời tiên tri Isaia, khi Ngài xuất hiện thì đây là dấu để nhận ra Ngài: một con người hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng. Ngài không cãi vã, không la lối, Ngài không bẻ gẫy cây sậy đã giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Đó chính là lòng nhân từ kiên nhẫn, xót thương của Thiên Chúa. Nhưng Ngài hiền lành không phải để buông xuôi, mà là để thâm nhập tâm hồn con người, cho đến lúc sự công chính được toàn thắng và muôn dân nước đều hy vọng vào Ngài.

Thật ra, trong suốt cuộc sống tại thế và cho đến hôm nay, Chúa Giêsu vẫn kiên nhẫn chờ đợi hy vọng mọi người trở về với Ngài để được cứu thoát. Chẳng hạn với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, một thứ tội phải bị ném đá, Chúa Giêsu chỉ nói :”Tôi cũng không kết án chị, chị hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Ngài luôn quả quyết: “Tôi đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn trở lại” và thực tế, Ngài đã chữa lành những kẻ bị coi là tội lỗi và bị xã hội ruồng bỏ.

Lời Chúa hôm nay một lần nữa cho thấy ơn cứu rỗi ở tầm tay chúng ta: được cứu rỗi hay không là do chúng ta, vì Chúa vẫn kiên nhẫn và ban ơn đầy đủ, chỉ cần chúng ta thành tâm trở về với Ngài. Người trộm lành chỉ trong giây phút hướng tâm hồn về Chúa và tin tưởng nơi Ngài, đã được Chúa hứa cho ở trên Thiên đàng với Chúa ngay hôm đó. Còn Giuđa đã thất vọng đến chỗ tự vẫn, thì đó là dấu chưa hiểu lòng Chúa thương yêu bao la đến mức nào.

Cầu nguyện:
Xin Chúa cho chúng ta thấu hiểu lòng Chúa luôn yêu thương kiên nhẫn chờ đợi chúng ta. Xin cho chúng ta hết lòng trở về với Chúa để được ơn cứu độ.
Amen.

Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2010

Suy niệm lời Chúa, thứ 6 tuần 15 thường niên

Lời Chúa (Mt 12,1-8):
Hôm ấy, vào ngày Sabát, Đức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. Người Pharisêu thấy vậy, mới nói với Đức Giêsu: "Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sabát!" Người đáp: "Các ông chưa đọc trong Sách sao? Ông Đavít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày Sabát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật Sabát mà không mắc tội đó sao? Tôi nói cho các ông hay: ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội. Quả thế, Con Người làm chủ ngày sabát."

Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế (Mt 12,7)


Phân tích:
Chúa Giêsu bị các người Biệt phái kết án vì chuyện các môn đệ Ngài bứt lúa trong ngày Sa bát.

Thực ra điều mà các người Biệt phái trách không phải vì họ đói mà bứt lúa để ăn vì trong Đnl 23,26 cho phép ăn lúa nơi đồng của người khác; nhưng vì họ đã làm việc trong ngày hưu lễ trong Xh 34, 21 cấm gặt lúa trong ngày Sa bát: người Biệt phái quá vụ luật đã coi việc bứt vài bông lúa có nghĩa là gặt lúa!. Trong câu chuyện này cũng nên lưu ý câu trả lời của Chúa Giêsu trích trong Hôsê 6,6 “Ta muốn tình thương chứ không màng hy lễ.”

Suy gẫm:
1. Vụ việc này là một minh họa cho thấy Luật (“ách”) của người Biệt phái do không có tình thương trong đó nên đã trở thành nặng nề như thế nào. Họ không hề quan tâm đến cơn đói của các môn đệ, mà chỉ rình mò xem các ông có làm gì phạm đến luật không để mà kết án.
Khi không có tình thương, mọi sơ hở nhỏ nhoi của anh chị em tôi đều có thể bị tôi kết án. Ngược lại, khi đã thương thì tôi có thể thông cảm cho những sai lầm đó cách dễ dàng.

2. “Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ”: Chúa Giêsu muốn tôi lấy lòng nhân từ mà đối xử với anh chị em mình. Đó chính là của lễ quý hơn mọi của lễ khác mà tôi có thể dâng lên cho Chúa.
Lòng nhân từ phải là căn bản cho những phán đoán của chúng ta đối với anh chị em; cần phải hành xử theo lòng nhân từ này hơn là chỉ xét đoán anh chị em theo những việc bên ngoài.

3. “Con người là chủ của ngày Sa bát”: tôi phải giữ luật vì Chúa chứ không phải vì luật.

4. Qua vụ việc này, Chúa cũng dạy ta đừng xét đoán người khác một cách “Lý thuyết”, mà phải để ý đến hoàn cảnh nữa.

5. Ngày nọ Khổng Tử dẫn đệ tử từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám đệ tử có Nhan Hồi và Lộ Tử là hai môn sinh được Khổng Tử sủng ái nhất.

Thời Đông Chu, loạn lạc khắp nơi khiến dân chúng lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng có nhiều ngày nhịn đói cầm hơi. Ngày đầu tiên đến đất Tề, Khổng Tử và các môn sinh được một người nhà giàu biếu một ít gạo. Khổng Tử liền phân công: Lộ Tử và các môn sinh khác vào rừng kiếm củi, còn Nhan Hồi đảm nhận việc nấu cơm.
Đang đọc sách ở nhà trên, Khổng Tử bỗng nghe thấy tiếng động ở nhà bếp. Nhìn xuống, ngài bắt gặp Nhan Hồi đang mở vung xới cơm cho tay vào nắm từng nắm nhỏ rồi bỏ vào miệng. Khổng Tử than thở: “Người học trò tín cẩn nhất của ta lại là kẻ ăn vụng.”
Khi Lộ Tử và các môn sinh khác trở về, Khổng Tử cho tập họp các môn sinh lại và nói:
- “Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm cho thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương, thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ. Nhưng liệu nồi cơm này có sạch không?”
Nhạn Hồi chắp tay thưa: “Dạ nồi cơm này không sạch. Khi cơm vừa chín con mở vung ra xem thử. Chẳng may một cơn gió tràn vào. Bồ hóng và bụi rơi xuống làm bẩn nồi cơm. Sau đó con xới cơm bẩn ra định vất đi. Nhưng nghĩ rằng cơm ít mà anh em thì đông. Cho nên con đã ăn phần cơm ấy. Thưa thầy như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi."
Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử lại ngẩng mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật. Suýt nữa Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ.”

6. “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 12,7).
Tôi đứng đó dưới ánh Mặt trời. Trước mặt tôi bóng đen đổ dài phía sau trên nền đất. Tôi chợt nghĩ: Mặt trời sao đen thế!
Xoay người 180 độ, cái bóng vẫn đổ dài phía sau trên nền đất. Nhưng truớc mặt tôi Mặt trời bừng sáng rực rỡ.
Lời Chúa hôm nay hé mở cho tôi lối sống mới, lối sống tự do của lòng nhân từ, không sợ hãi, không hình thức lề luật.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, bước vào đời con phải chấp nhận luật chơi của cuộc sống. Xin cho con luôn ý thức luật lệ chỉ là phương thức để con sống hoàn thiện và là cầu nối để con đến với Thiên Chúa và tha nhân.
Amen.

Thứ Tư, 28 tháng 4, 2010

PHỤC SINH - NIỀM TIN VÀ HY VỌNG



"Ánh sáng đã xoá tan màn đêm, trần gian ơi hãy vui mừng"
Lời hát trên đây đựoc cất cao trong mùa Phục Sinh gieo vào lòng tôi và mọi gưòi một niềm mừng rỡ, hân hoan khôn tả.
Nếu trên thế gian này có một ánh sáng vĩ đại có thể xoá tan màn đêm âm u của tôị lỗi và đau khổ, áp bức và thù hận, thì chỉ có một ánh sáng duy nhất là Chúa Giê-Su.
Và nếu như trên cõi đời này có một sự sống bất diệt và mãnh liệt làm tái sinh vạn vật, thì chỉ có một sự sống duy nhất đó là sự Phục Sinh vinh quang của Con Thiên Chúa.
Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh mang lại cho nhân loại một niềm tin và hy vọng về sự sống đời sau-sự sống viên mãn và bình an ở nước trời.
Mầu nhiệm Phục Sinh còn mời gọi mỗi người Kitô hữu biết "chết đi" và rồi cũng sẽ sống lại như Người,
Sự chết đi và sống lại của Đức Kitô làm tôi chợt nhận ra rằng: từng ngày trong đời tôi và các bạn đang sống, là từng ngày chúng ta đang hẹn "chết'' với Người. Cái "chết" ở đây không phải chỉ dừng lại là cáichết thể xác mà còn là cái "chết" trong tâm hồn mỗi người. Tôi "chết" với Người khi tôi biết đem Chúa cho ngưòi khác,khi tôi biết chia sẻ nỗi đau khổ của anh em, khi tôi biết có cái nhìn cảm thông với những mảnh đời bất hạnh và cầu nguyện cho họ, khi tôi biết giúp đỡ những ngưòi có hoàn cảnh khó khăn hơn mình, khi tôi nhiệt tâm và biết hy sinh thời gian cho những công việc của Giáo xứ...
Giữa thế giới ngày nay, một thế giới thật hiện đại đang chạy theo đồng tiền,đang chạy theo lối sống hưởng thụ thậm chí phủ nhận sự có mặt của Chúa, thì những người Kitô hữu như tôi và các bạn cũng đang gặp không ít khó khăn và thử thách làm chúng ta nản lòng, dễ bỏ Chúa và chạy theo lối sống xung quanh. Nhưng sức mạnh của Chúa Phục Sinh vẫn luôn ở bên tôi và các bạn từng ngày,từng giờ trong đời sống mỗi người.
Sống với Chúa từng ngày là hẹn "chết" với Ngưòi từng ngày.Để rồi nhờ "chết đi", tất cả chúng ta rồi cũng sẽ sống lại vinh quang với Người.

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010


Ngày xưa, có một cậu bé tính tình nóng nảy, bộp chộp, hay nghĩ xấu và xét đoán người khác. Bố cậu nghĩ ra một cách để dạy bảo cậu. Ông đưa cho cậu một túi đinh và dặn rằng:

Cứ mỗi lần con nóng giận, có thành kiến, nghĩ xấu, xét đoán, chỉ trích, kết án và thù hận người khác, thì con hãy đóng một cái đinh vào khúc gỗ. Ngày đầu tiên, cậu đã đóng 14 cái đinh vào khúc gỗ.

Chẳng bao lâu, cậu đã đóng đinh gần kín hết khúc gỗ, khiến cậu phải suy nghĩ. Cậu nhận ra rằng mỗi cái đinh đóng trên khúc gỗ, là mỗi tội cậu đã xúc phạm đến người khác. Từ đó, cậu đã cố kiềm chế tính tình và lời nói của của mình, nên số đinh đóng vào khúc gỗ cũng ngày càng bớt dần.

Cuối cùng đến một ngày kia, cậu không còn phải đóng một cái đinh nào vào khúc gỗ nữa.

Cậu liền đi gặp bố và thưa rằng:

Thưa cha, hôm nay con không còn phải đóng một cái đinh nào nữa hết!

Lúc đó, bố cậu mới bảo rằng:

Ngày nào con không còn nóng giận, không còn thành kiến, nghĩ xấu, xét đoán, chỉ trích, kết án và thù hận người khác, thì con hãy nhổ một cái đinh ra khỏi khúc gỗ mà con đã đóng vào trước kia.

Ngày lại ngày trôi qua, cuối cùng cậu bé đến gặp bố và thưa rằng:

Thưa cha, con đã nhổ tất cả các đinh khỏi khúc gỗ rồi.

Ông bố bèn dẫn cậu đến trước khúc gỗ và chỉ tay bảo:

Này con, con đã biết cách xử sự tốt rồi đó! Nhưng con hãy nhìn xem, mặc dù con đã nhổ hết đinh ra, nhưng các vết đinh vẫn còn in trên khúc gỗ. Khúc gỗ hiện nay không còn lành lặn như trước kia nữa!

Mỗi khi con nóng giận, có thành kiến, nghĩ xấu, xét đoán, chỉ trích, kết án và thù hận người khác, là con đã làm tổn thương đến mối liên hệ giữa con và người đó, và để lại cho người ấy một vết thương trong lòng, cũng như những vết đinh trên khúc gỗ này vậy. Người ta có thể đâm một con dao vào người của con, rồi cố gắng băng bó chữa lành, nhưng mãi mãi vẫn để lại vết thẹo trên thân thể của con. Một vết thương do lời nói gây ra cũng làm đau nhức như một vết thương trên thân thể vậy.

Lời nói hay hành động thiếu bác ái của con có thể làm tổn thương mối liên hệ giữa con và người thân, thậm chí có thể làm con mất đi người thân, người bạn đó; khiến người thân và người chung quanh con phải đau khổ, danh dự bị tổn thương, hạnh phúc tan vỡ, gia đình đổ nát. Con thấy không, bao lâu liên hệ giữa con và người khác bị ngăn cản, là bấy lâu liên hệ giữa con và Thiên Chúa cũng bị ngăn cản, vì Chúa nói: "nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em" (Mc11:25).

Chúng ta hãy dành một ít phút thinh lặng cầu nguyện, kiểm điểm lại chính bản thân mình với những người chúng ta đã xúc phạm, với những mối liên hệ bị tổn thương để Mùa Chay thánh này, xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thống hối, làm hòa với Thiên Chúa và anh chị em.

Lời nguyện: Lạy Chúa Giêsu, đã có lúc trong cuộc đời, con đã không kềm chế được tính tình, cảm xúc của con và đã làm tổn thương đến người khác một cách vô tình hay cố ý, qua những lời nói, hành động thiếu bác ái, thiếu suy nghĩ của con. Những lúc như thế, là con đã đóng những cái đinh nhọn, và để lại những vết đinh trên đời sống của họ.

Con mời Chúa hiện diện với con giây phút này, giúp con nhìn ra lầm lỗi của mình và có lòng thống hối ăn năn, đồng thời giải thoát con khỏi tính tình, cảm xúc thiếu tự chủ của con.

Xin Chúa xoa dịu những đau đớn, và chữa lành các vết thương, mà con đã gây ra cho người khác, làm tổn thương đến mối giây liên hệ giữa con với họ.

Xin Chúa ban cho họ sự bình an và niềm vui được chữa lành trọn vẹn trong tâm hồn.

Xin Chúa cũng hàn gắn, và chữa lành những vết thương và mối liên hệ không tốt do người khác gây ra cho chính bản thân con, hay do con đã gây ra cho họ.

Cám ơn Chúa Giêsu về sự chữa lành, tình yêu và lòng thương xót của Chúa dành cho con. Amen.

CAFE MỘT MÌNH (HOA XƯƠNG RỒNG )



Bằng Lăng ngồi thẫn thờ trước hiên nhà, lắng nghe chiều xuống chầm chậm bên đời. Chiều đến khe khẽ, nhẹ nhàng, không ồn ào nhưng lại đầy tiếng thở than khôn tả. Cũng như tâm hồn Bằng Lăng lúc bấy giờ, bình yên mà sao lại buồn, sao lại muốn cuộn sóng thét gào để phá đỗ mọi vụn vỡ trong người.
Bằng Lăng cũng chợt thấy mình khó hiểu. Thế là Bằng Lăng lại xách xe đi, cứ đi trước cái đã còn nơi đến là đâu thì cũng không cần biết nữa rồi. Bằng Lăng đạp từng vòng xe thật chậm rãi trên phố, lướt qua biết bao con người, dường như những nỗi buồn cũng cuốn theo những vòng xe mà tan biến dần. Vòng vèo một đỗi lâu rồi, Bằng Lăng lại muốn dừng lại một nơi nào đó để thả hồn theo chiều đang rơi, để một mình mà thơ thẫn mông lung theo những suy nghĩ của riêng mình. Phía bên kia con đường, quán cafe mang tên “Một mình” lại đúng quả là nơi lý tưởng cho Bằng Lăng. Thế là chẳng chần chừ gì nữa, Bằng Lăng dắt xe vào quán, lựa chọn một nơi thích hợp và gọi một ly café đen. Từ đó tới giờ, Bằng Lăng chưa bao giờ uống thứ nước này. Nhưng hôm nay chẳng hiểu sao Bằng Lăng lại uống nó. Nhìn từng giọt café đen tí tách rơi sao Bằng Lăng thấy giống như những giọt nước mắt của ai đang khóc, chợt Bằng Lăng thấy chạnh lòng. Điệu nhạc nhẹ nhàng, du dương đưa Bằng Lăng vào chốn tĩnh lặng của ký ức. Bằng Lăng nhìn thấy rất rõ chính mình, Bằng Lăng lại bắt đầu nghĩ ngợi.
Ba của Bằng Lăng là người Công Giáo nhưng thưở ấu nhi Bằng Lăng có được đi lễ bao giờ. Lắm lúc đi ngang qua nhà thờ, Bằng Lăng tò mò đứng ngắm người ta dâng lễ mà thấy thích thú làm sao. Bằng Lăng học lỏm được mấy câu trong Kinh Lạy Cha(mà thưởu nhỏ Bằng Lăng Chẳng biết nó là gì), thế là lâu lâu nhớ tới Bằng Lăng lại lẩm nhẩm một mình. Mãi đến năm 15 tuổi, Bằng Lăng mới được học giáo lý, xưng tội rước lễ và lãnh nhận các bí tích. Đó là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Bằng Lăng. Bắng Lăng cảm nhận được Chúa đã yêu thương Bằng Lăng một cách rất đặc biệt.
Rồi Bằng Lăng lại tham gia vào Huynh Trưởng. Lúc đầu Bằng Lăng còn rụt rè, e sợ nhưng dần dần, tình cảm chân thành và sự giúp đỡ của anh chị em cùng với ơn Chúa đã giúp Bằng Lăng mạnh dạn hơn, chững chạc hơn trong sứ mạng phục vụ. Đó cũng chính là mái ấm thứ 2 mà Bằng Lăng có được trong đời, Bằng Lăng thấy mình thực sự yêu quý và trân trọng nó. Chính mái ấm đó đã dạy cho Bằng Lăng biết thế nào là hy sinh, thế nào là hết mình, thế nào là cảm thông với những khuyết điểm và nỗi đau của người khác, thế nào là sức mạnh của sự đoàn kết, thế nào là đau nỗi đau chung của anh em mình.
Những hình ảnh kỷ niệm ùa về, Bằng Lăng cảm nhận được những nhiệt huyết, những tiếng cười rộn ràng trong từng cuộc trại, những giây phút thầm lặng cùng với anh chị em quỳ bên Thánh Thể Chúa, những giọt mồ hôi vất vả khi làm công tác phục vụ và cả những giây phút khó khăn, thăng trầm đôi khi nhuộm màu buồn bã và thất bại. Tất cả dù đã qua đi nhưng sao như mới hôm qua thôi. Thật gần mà cũng thật xa.
Hiện giờ, Đoàn Huynh trưởng vẫn đang tiếp tục bước đi nhưng số lượng bước chân đã thưa thớt dần. Có những bước chân vẫn nhiệt huyết, bước đi không mệt mỏi, có những bước chân khập khiễng, bước thấp bước cao, lúc thẳng đường lúc sang ngang, có những bước chân ở xa, không chung đường nhưng tâm trí vẫn bước cùng người đang bước, có những bước chân bước đi vô hồn, có những bước chân đã thực sự rời bỏ con đường hẹp để đi một con đường mới rộng hơn. Mỗi bước chân ấy đại diện cho từng người anh chị em của Bằng Lăng bước đến với Chúa và hẳn nhiên có cả Bằng Lăng nữa.
Chợt chuông điện thoại reo lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Bằng Lăng làm Bằng Lăng giật mình.Thì ra là Bạch Cúc đang gọi. Bằng Lăng chần chừ một hồi lâu rồi mới nhấc máy:
“Tao nghe nè”
“Mày đang ở đâu đó. Sao lâu bắt máy vậy?” Bạch Cúc có vẻ thắc mắc.
“À…uh… tao chẳng đang ở đâu cả.”
“Gì?” Bạch Cúc dường như hơi khó hiểu trước sự trả lời của Bằng Lăng.
“Mà mày gọi tao có gì không?”
“|Mai sinh nhật nhỏ Thủy Tiên. Tụi mình tặng gì đây?”
Thật ra tâm trạng của Bằng Lăng lúc này như một khoảng mênh mông vô định, nên Bằng Lăng cũng chẳng biết trả lời Bạch Cúc như thế nào nên đành nói thế buông xuôi:
“Thôi để mai tính nha”
“Uh. vậy cũng được.”
Cuộc nói chuyên kết thúc. Bạch Cúc cũng chợt nhận ra bạn của mình đang có vấn đề gì đấy. Bạch Cúc cảm thấy Bằng Lăng đúng là khó hiểu, nên thôi cũng chẳng muốn hỏi gì sâu xa hơn. Còn Bằng Lăng vẫn ngồi trầm ngâm ở đấy, muốn nói với Bạch Cúc như cái cách Bằng Lăng vẫn hay nói về những suy nghĩ và trăn trở, những ước mơ cũng như những nỗi buồn và niềm vui trong khi phục vụ. Bạch Cúc và Bằng Lăng vẫn hay thường nói với nhau về những điều như thế. Bằng Lăng và Bạch Cúc là đôi bạn cùng chí hướng và khá hợp ý. Và ngày Bằng Lăng bước chân vào huynh trưởng thì Bạch Cúc là người mà Bằng Lăng cảm thấy gần gũi nhất. Thế là bên cạnh việc cùng nhau phục vụ, Bằng Lăng và Bạch Cúc lại phát triển thêm một mối quan hệ tốt đẹp là tình bạn.. .Nhưng Chúa lại ban cho Bằng Lăng một quả tim nhạy cảm và một tâm hồn dễ bị tổn thương. Còn Bạch Cúc thì lại khác, nếu Bằng Lăng là cánh hoa tím buồn dễ bị vùi dập và tan nát thì Bạch Cúc lại là một bông cúc trắng đơn sơ, bình dị không bám bụi. Đó cũng chính là điều đôi khi cũng làm nên khoảng cách giữa Bạch Cúc và Bằng Lăng. Đôi khi Bằng Lăng nói về những cảm xúc của mình mà Bạch Cúc chỉ biết đưa mắt nhìn mà không thể nào hiểu nỗi. Còn Bằng Lăng thì lại thấy mình lạc lõng. Nhưng làm sao Bạch Cúc hiểu được nỗi đau trong từng câu nói của Bằng Lăng khi người này là một mặt hồ êm ả, trong xanh, không gợn sóng, còn người kia là mặt biển mênh mông, tuy yên lặng nhưng lúc nào cũng có sóng ngầm dữ dội.
Bằng Lăng nhớ lại hôm trước có ghé qua nhà Bạch Cúc. Bạch Cúc nói:
“Chán quá, dạo này huynh trưởng sao mà…nên tao…”
Bằng Lăng hiểu hết câu nói bỏ lững đó của Bạch Cúc. Và đó hẳn nhiên là nỗi đau nhói không chỉ trong lòng Bằng Lăng, Bạch Cúc mà là ở tất cả các anh chị em khác. Nhưng sao Bằng Lăng chẳng biết nói gì với Bạch Cúc lúc này. Một sự yên lặng cũng với những nỗi buồn không lời cứ bao trùm lấy Bằng Lăng và Bạch Cúc.
Bằng Lăng lại nhớ đến ánh mắt buồn bã của chị Trưởng đoàn mỗi khi lễ chiều thứ năm, giờ chào cờ sáng chủ nhật, giờ chia sẻ và quét dọn nhà thờ hàng tuần, vẫn chỉ những gương mặt ấy thôi, không thay đổi. Đôi lúc nhớ đến những ánh mắt của anh em mình, vẫn nhẫn nại, chậm rãi, âm thầm mà cứ tiếp bước, Bằng Lăng thấy thương quá, thương quá cho những tâm hồn nhiệt thành. Đôi khi nhìn những cảnh đấy, Bằng Lăng chỉ muốn bật khóc, vừa buồn vừa vui, buồn vì sao mà số anh chị em đến với công việc phục vụ quá ít ỏi, vui vì nơi đây, giữa một rừng nến đã tắt lịm từ lâu, vẫn còn những ngọn nến đang cháy sáng. Phải rồi, ánh mắt của Chúa Giêsu vẫn đang nhìn Bằng Lăng và các anh em của mình đấy thôi. Làm sao mà từ bỏ được ơn gọi khi ánh mắt Chúa vẫn dõi theo bên đời?

Một tiếng còi hú dài báo hiệu giờ tan tầm đã đến. Phố phường sắp lên đèn. Ngó ra bầu trời, ánh hoàng hôn úa màu – màu tím buồn như trên đồi chiều Can-vê Chúa chịu chết khi xưa. Bằng Lăng nhấp những giọt café cuối cùng.Từng giọt café sao mà đắng chát trong miệng, không nuốt nổi. Bất chợt, ánh mắt Chúa Giêsu lại hiện lên trong tâm trí Bằng Lăng. “ Giọt Đắng”- Chúa Giêsu đã uống chén đắng ân tình vì yêu .

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010


PHO TƯỢNG ( ti gôn )
Nhìn từ trên xuống dưới nó chỉ là một pho tượng bình thường, đứng trơ trơ chẳng nhúc nhích, ko nói được như một con người. Nó chẳng phải từ dưới đất chui lên hay, cũng chẳng phải từ trên trời rơi xuống mà nó được tạc bởi tay con người. Từ đầu tóc, mặt, mũi, tay chân..vv. Nhìn kĩ từ trán xuống chân mày, rồi đến mí mắt và đến mi mắt tôi dừng lại ở đôi mắt. Đôi mắt sâu thẳm, chất chưa nhiều nỗi niềm có vẻ hơi buồn một chút nhưng nhìn môi lúc nào cũng như đang mỉm cười. Tuy nhìn đôi môi như đang mỉm cười kia thật hay nhưng tôi không muốn dừng ở đó. Tôi lại trở về đôi mắt, tôi nhìn rất lâu, ko hiểu sao nhìn vào đôi mắt đó tôi cảm thấy nó như muốn nói lên điều gì đó, nó long lanh, long lanh như muốn nhỏ lệ nhưng lệ chỉ lưng tròng, nước mắt như muốn chảy ngược vào trong. Mắt tôi cư muốn nhìn, nhìn vào đôi mắt đó không muốn rời đi chỗ khác. Không biết người tạc pho tượng là ai, ko biết mọi người nghĩ thế nào về Người này, riêng tôi xin tặng cho đôi bàn tay của Người này hai chữ “Tuyệt Vời”. Tuy chỉ là một pho tượng như bao pho tượng khác thôi nhưng dường như nó có linh hồn. Nó làm cho tôi có cảm giác như Nó đang nhìn mình, nhìn mình mỉm cười và cũng cần mình để chia sẻ tâm sự. Đôi mắt của pho tượng làm tôi suy nghĩ rất nhiều, tôi đã đặt ra rất nhiều câu hỏi: phải chăng pho tượng mà tôi cảm thấy có linh hồn kia đang thiếu hơi ấm, phải chăng Nó nhìn mọi Người chư không phải riêng tôi và phải chăng nó cần sự giúp đỡ…vvrất nhiều. Và tôi chợt hiểu rằng đôi mắt này khôngchỉ cần riêng tôi để chia sẻ mà nó cần rất nhiều, rất nhiều người chung tay góp sức. Không phải góp bằng tiền cho có lệ, cũng không phải bằng việc gì đó lớn lao để mọi người chú ý đến mình. Cái mà Nó cần là những lời cầu nguyện của mọi người, Nó cần lắm những trái tim biết yêu thương, Nó cân rất nhiêu sự chia sẻ cho những người không may. Suy nghĩ này không phải là của một pho tượng đứng trơ trơ, vô tri, vô giác, pho tượng mà tôi đang nói đến đây là Pho Tượng KiTô Vua. Thông qua đôi mắt muốn nhắn nhủ mọi người, bằng hình thúc này hay bằng hình thức khác khuyên mọi người cùng hiệp thông Cầu Nguyện, hãy năng lần hạt, hãy cứu lấy những tâm hồn đang lâm lạc bằng những lời kinh, phó dâng hết tâm hồn lên cho Ngài. Và qua đôi mắt Chúa Cha muốn nói với mọi người là Hãy Yêu Thương Nhau.

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2010

TÌNH YÊU

Tôi thường tự hỏi rằng :"Nếu Thiên Chúa yêu thương con người muốn con người vào hưởng niềm vui thiên đàng .Tại sao Thiên Chúa lại không tạo dựng con người giống như các vị thánh đi như vậy chẳng phải là tốt hơn sao".
tôi cũng không phải khổ ở đời này và Chúa cũng không phải chết một cách nhục nhã để cứu chuộc con người.
Nhưng cho đến hôm nay tôi mới thật sự hiểu rằng ,chỉ khi tôi hoàn toàn gục ngã ,tôi đã phản bội Chúa bao lần Chúa đã không bỏ rơi tôi .Như một người cha nhân hiền nâng con mình dạy khi nó gục ngã ,lúc đó tôi mới cảm nhận một tình yêu thật sự .Một cảm xúc dâng trào trong trái tim .Tôi gần như bật khóc khi cảm nhận được một tình yêu vô bờ bến .
tôi nghiệm ra rằng chân lí "không gì quí hơn tình yêu của người thí mạng sống vì bạn hữu mình".
Chỉ khi bạn gục ngã ,đau đớn có bàn tay vô hình của Chúa qua lời kêu xin của bạn nâng bạn lên từ đau khổ bạn mới cảm nhận được tình yêu của một vị Thiên Chúa cao cả đối với một con người nhỏ bé chỉ là những hạt bụi.Chúa muốn bạn thấy được tình yêu của Ngài giống như tôi.
Angel baby

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

THÔNG ĐIỆP MÙA XUÂN


Nắng rất vàng, một màu vàng ngọt như mật. Bầu trời trong xanh vời vợi. Từng cơn gió nhẹ lùa miên man len vào kẽ lá, vờn theo một suối tóc đen huyền giữa phố làm ngây ngất lòng ai. Trong làn gió, thoang thoảng đâu đây một mùi hương rất quen thuộc. Mùi hương nồng nàn, êm ả của mùa xuân. Xuân duyên dáng đang ngự đến chan hòa khắp mọi nơi.
Mùa xuân luôn gắn liền với tình yêu và hạnh phúc. Xuân đến mang theo niềm vui cho thiên nhiên và con người. Nụ cười ai cũng như rạng rỡ,vui tươi hơn khi chào nhau trong những ngày xuân về.
Một buổi sớm đạp xe trên đường, lòng tôi thấy thanh thản kì lạ. Ánh mắt tôi chợt dừng lại ở một hình ảnh rất quen thuộc. Một chiếc xe gỗ chở đầy cây cảnh và hoa đang thấp thoáng giữa dòng xe cộ đan xen nhau. Từng chồi lá xanh xanh, từng nụ hoa chúm chím rực rỡ sắc màu đang đung đưa theo gió. Ánh nắng bình minh làm cho lá và hoa thêm xinh tươi. Hoa như đang cười với nắng. Giữa phố phường nhộn nhịp, chiếc xe gỗ chở những bông hoa xinh tươi ấy là một nét chấm phá kì diệu và yên bình trong tác phẩm của cuộc sống. Và người bán hoa dạo, dù bán với mục đích kiếm sống hay vì sở thích thì ông vẫn như một nghệ sĩ giữa đời thường, tôi vẫn thấy nét rạng rỡ vui tươi trên gương mặt già nua của ông. Lòng tôi cũng chợt thấy vui lây.
Dọc các dãy phố, trước hiên nhà, những mâm củ cải, những rổ củ kiệu… đã được bầy ra để phơi cho kịp nắng. Đâu đó rộn vang tiếng cười đùa của những gia đình đang quét dọn, lau chùi, sơn phết nhà cửa chuẩn bị đón Tết.
Phố phường tấp nập thêm. Mọi hoạt động buôn bán sinh hoạt cũng rộn ràng hơn. Ai nấy đều hối hả.
Một chiếc xe hoa băng ngang qua mang theo một tình yêu đã kết trái.Cô dâu chú rể cười tươi và sung sướng với hạnh phúc lứa đôi…
Tết đang đến thật gần.

Nhưng vào một buổi chiều, tôi lang thang trong khuôn viên thánh đường. Không khí đón Tết bên ngoài rộn ràng bao nhiêu thì tại đây, trong nhà Chúa, không khí lại tĩnh lặng, âm thầm bấy nhiêu.Vẫn những khuôn mặt quen thuộc mà tôi vẫn gặp trong giờ lễ thường ngày.Bình thường lễ đã vắng, nhưng những ngày cận Tết, lễ còn vắng vẻ hơn. Ai cũng bận rộn việc nhà cửa, cơ quan, buôn bán lo cho Tết.
Nhưng trong không gian lặng lẽ đó, cái tôi lưu tâm và cảm nhận được đó là tâm tình sám hối và cảm tạ. Cuối năm rồi, tâm hồn ai cũng dễ lắng đọng, dể bình tâm mà nhớ lại những lỗi lầm và thiếu sót với Chúa và anh em, tạ ơn Chúa với những ơn lành Chúa đã ban trong suốt năm qua. Sám hối để Chúa đổi mới tâm hồn mỗi người thành một mùa xuân mới sau những ngày đông u ám, mù mịt.
Chúa là mùa xuân vĩnh hằng và là mùa xuân mang lại hạnh phúc thật cho con người. Mùa xuân ấy đã đến, đã sống và ở lại giữa con người. Mùa xuân đất trời sẽ qua đi nhưng mùa xuân của Người luôn tồn tại vĩnh viễn.Mùa xuân đất trời có đẹp bao nhiêu cũng không thể sánh bằng mùa xuân của Người. Chính vì thế dù Tết đang đến, dù xuân đang vui, tôi đến nhà thờ mà vẫn thấy không khí tĩnh lặng. Nhưng chính trong sự tĩnh lặng đó lại mang một sức sống mãnh liệt của những tâm hồn khao khát hạnh phúc và mùa xuân nơi Đức Giêsu Kitô. Thập giá là mùa xuân. Chính cái chết và sự sống lạ của Người đã chứng minh điều đó.

“ Lạy Chúa, một mùa xuân mới nữa lại đến. Xin Chúa cho chúng con ý thức được Chúa mới chính là mùa xuân mà chúng con cần phải chào đón vào trong tâm hồn mình. Xin cho chúng con biết rằng Chúa ban cho nhân loại mùa xuân thiên nhiên là để chúng con nhớ đến mùa xuân của Chúa, để chúng con cũng biết làm mới tâm hồn mình để luôn đón Chúa xuân ngự đến. Và xin cho chúng con biết quý mùa xuân của tâm hồn mình hơn là mùa xuân của cám dỗ,xa hoa,bạc tiền, ăn chơi, chè chén say sưa và nhiều hưởng thụ khác. Xin ban cho chúng con một mùa xuân của yêu thương, hợp nhất và an bình trong vòng tay bao la của Chúa, Amen”.

Hoa Xương Rồng

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

NGÀY CHÚA NHẬT BÌNH AN


Sáng chủ nhật, tôi thức dậy sớm hơn mọi ngày. Ánh nắng mai xuyên qua cửa sổ, tiếng chim hót rộn ràng báo hiệu một ngày mới tươi đẹp bắt đầu. Tôi thấy lòng phấn khởi lạ thường. Sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, tôi đọc kinh.Và tôi đứng trước gương, chỉnh sửa quần áo cho gọn gàng, Tôi ngắm mình trong bộ đồng phục huynh trưởng. Tôi thấy mình tự hào và hân hoan. Logo “THIẾU NHI THÁNH THỂ VIỆT NAM” vẫn nằm ngay trên ngực áo bên trái – nơi trái tim ngự trị, nhắc nhở tôi về sứ mạng người huynh trưởng mà Chúa đã ban cho tôi.
Con đường từ nhà tôi đến nhà thờ không bao xa nhưng sao tôi thấy yêu nó vô cùng. Mỗi buổi sáng Chúa nhật, tôi đạp xe đi lễ mà trong lòng lúc nào cũng mong cho mau tới nhà thờ. Ngôi nhà thờ Chính Tòa thân yêu vẫn hiện diện rất ung dung nhưng lại đấy mời gọi. Tôi ngắm các em thiếu nhi đang vui đùa rất ư hồn nhiên trong bộ đồng phục thật đẹp với đủ các màu khăn. Chẳng giống với những lúc các em ranh mãnh canh me các anh chị huynh trưởng sơ ý là tranh thủ nói chuyện trong giờ lễ. Thậm chí lỡ có bị bắt quả tang vẫn rướng cổ lên chối leo lẻo. Tôi chợt cười một mình, cảm thấy các em cũng thật khó hiểu.
Thường thì mọi người mong đến ngày chủ nhật để ngủ nướng, để xả stress sau một tuần học tập và làm việc vất vả. Nhưng tôi mong đến ngày Chúa nhật không đơn thuần chỉ có thế, mà là lúc tôi và các bạn tôi hi sinh đến với Chúa trong sứ mạng người Huynh trưởng. Tôi thường gọi ngày Chúa nhật là “Ngày Phục Vụ”. Bởi vì từ sáng tới tối, có nhiều hoạt động phục vụ dành cho Huynh trưởng chúng tôi. Sáng: đi lễ Đoàn Thiếu Nhi, chiều: giữ xe, tối: học giáo lý và sinh hoạt. Từ trong thâm tâm tôi, tôi rất yêu quý ngày Chúa nhật- ngày tôi và các bạn tôi làm việc cho Chúa mà không một chút vướng bận.Tôi thấy đời mình bình an và đầy ý nghĩa.Và tôi đã từng ước ao phải chi ngày nào trong cuộc sống của tôi cũng đều là “Ngày Chúa nhật bình an”.
Nhưng cuộc sống không phải được như mình muốn.
Bây giờ, tôi vẫn dậy sớm vào ngày Chúa nhật nhưng không phải để đi lễ mà là đi làm.Tôi thấy rất khó chịu. Mỗi lần đạp xe đi ngang qua nhà thờ đến chỗ làm, mắt tôi hướng vào trong, vẫn nhà thờ thân yêu của tôi, vẫn các em thiêú nhi dễ thương của tôi, vẫn những người bạn của tôi đang khoác trên mình chiếc khăn đỏ thắm. Tôi thấy nhớ, thấy ao ước và một chút tan nát trong lòng. Tự dưng tôi không muốn đến ngày Chúa Nhật một chút nào…Tôi thấy đời mình như đang bị mất mát. Tôi như đang sống trong sự dằn vặt mà chỉ có tôi dằn vặt chính tôi.
Nhưng từ từ, tôi cũng bình tâm lại mà suy nghĩ. Những đau buồn trong tôi cũng nguôi ngoai dần. Tôi biết Chúa vẫn thông cảm cho tôi. Tôi đã lớn, phải đi làm, phải phụ ba mẹ lo cơm áo gạo tiền. Chúa chỉ muốn tấm lòng tôi mỗi khi tôi đến với Người dù chỉ là dăm ba phút cầu nguyện sau một ngày đi làm mệt nhọc.Tôi muốn đến với Người bằng nghững thời gian nhỏ nhoi mà tôi có được như bà góa trong tin mừng Mc 12,43 “Thầy nói thật với các con, trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết”
Nghĩ đến đây, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng và bình an hơn. Tôi có cảm giác Chúa đang mỉm cười với tôi. Mãi mãi, ngày Chúa nhật vẫn là “Ngày Chúa nhật bình an “ của tôi, nếu trong lòng tôi thực sự có Người.
Và các bạn của tôi ơi, hãy yêu quý ngày Chúa Nhật và mọi ngày trong đời sống mỗi người, hãy sống hết mình cho Chúa và nâng niu những giây phút mà Chúa ban cho tôi và các bạn hơi thở và còn hiện diện trên quả đất này, hãy đến với Chúa bất kể giây phút nào vì Người luôn chào đón và rộng mở đón chúng ta vào lòng. Tôi và các bạn hãy cùng nhau phấn đấu, dù mỗi người mổi cảnh, mỗi người ai cũng có khó khăn riêng và con đường riêng để đến với Chúa nhưng mục đích cũng chỉ có một đó là Chúa và trong Chúa, tôi và các bạn đều là một.
Hãy cố lên, cố lên và cố lên nhé các bạn thân yêu của tôi. !


Hoa Xương Rồng
Lượt xem:

Free Web Site Counter

Người đang theo dõi blog này

Powered By Blogger