Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2008

khai mạc Trại Huấn Luyện Dự Trưởng

Tối nay, ngày 04.10.2008, khai mạc Trại Huấn Luyện Dự Trưởng


Trước giờ khai mạc trại, viếng Thánh Thể và cha xứ ban huấn từ


Dựng trại , và còn nhiều hình khác nữa…

BÍ MẬT FATIMA

BI MẬT THỨ NHẤT:
Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt. Họ nổi lên trong đám cháy, bị các ngọn lửa nâng lên cao, những ngọn lửa này phát ra từ thân mình họ cùng với một đám khói lớn. Họ lại rớt xuống mọi phía, giống như những tia lửa trong một đám cháy lớn, vô trọng lượng hoặc mất thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên rỉ vì đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh khiếp chúng con và làm chúng con run lên vì sợ hãi. Các quỷ dữ có thể được phân biệt do các hình thù gây kinh hãi và ghê tởm, giống như những con vật khủng khiếp và chưa bao giờ thấy, tất cả đều đen đủi và trong suốt. Thị kiến này kéo dài một lúc. Làm sao chúng con có thể bày tỏ lòng biết ơn cho xứng với Mẹ yêu dấu trên trời của chúng con, Ðấng đã báo trước cho chúng con trong lần Hiện ra thứ nhất khi hứa rằng Ngài đem chúng con về trời. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết điếng vì sợ hãi và kinh khiếp.

BI MẬT THỨ HAI:
Sau đó mắt chúng con hướng về Ðức Bà. Ngài hết sức âu yếm và buồn bã nói với chúng con: “Chúng con đã thấy hoả ngục, nơi mà các linh hồn tội lỗi đáng thương đi vào. Ðể cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm. Nếu điều Mẹ nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu và sẽ có hoà bình. Chiến tranh sẽ kết thúc: nhưng nếu dân chúng không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tranh tồi tệ sẽ xảy ra trong triều Giáo hoàng của đức Piô XI. Khi chúng con thấy một đêm tối được chiếu sáng bởi một ánh sáng chưa từng biếât, chúng con hãy biết rằng đó là dấu chỉ lớn lao mà Thiên Chúa ban cho các con để biết rằng Người sắp trừng phạt thế gian vì những tội ác của nó, bằng chiến tranh, đói kém, và những bách hại đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha. Ðể tránh điều này, Mẹ sẽ xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, và Hiệp thông đền tạ vào ngày Thứ Bảy đầu tháng. Nếu lời cầu xin của Mẹ được chấp nhận, Nước Nga sẽ hoán cải, và sẽ có hoà bình; nếu không, nó sẽ phổ biến những lầm lạc trên khắp thế giới, gây nên những chiến tranh và bách hại cho Hội Thánh. Những kẻ lành sẽ bị giết hại; Ðức Thánh Cha sẽ đau khổ nhiều; nhiều quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ toàn thắng. Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, và nó sẽ được hoán cải, và một giai đoạn hoà bình sẽ được ban cho thế giới”.


BI MẬT THỨ BA:
Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian: chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!'. Và chúng con thấy trong một luồng sáng lớn là Thiên Chúa: ‘một cái gì tương tự như cách người ta xuất hiện trong một tấm gương khi người ta đi ngang qua’ một Giám mục bận đồ trắng ‘chúng con có cảm nhận đó chính là Ðức Thánh Cha’. Các Giám mục, các Linh mục, các tu sĩ nam nữ khác leo lên một ngọn núi dốc thẳng, trên đỉnh núi có một Thánh giá lớn làm bằng thân cây thô nhám như thể của một cây bần với vỏ cây; trước khi đến đó, Ðức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn, một nửa bị tàn phá và một nửa rung chuyển, với bước chân nghiêng ngả, buồn khổ vì đau đớn và ưu phiền, ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thân xác ngài gặp trên đường; khi đã lên đỉnh núi, quỳ dưới chân Thánh giá lớn, ngài đã bị một nhóm lính giết hại bằng đạn và mũi tên, và cùng một cách thức như thế các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ khác, và các người giáo dân thuộc mọi giai cấp và địa vị xã hội khác nhau lần lượt bị giết hại. Bên dưới hai cánh tay của Thánh giá có hai Thiên thần, mỗi vị cầm trong tay một chiếc bình bằng pha lê, trong đó các ngài hứng máu của các vị Tử đạo và với máu đó các ngài rảy trên các linh hồn đang tiến về Thiên Chúa.
Mệnh Lệnh Ðức Mẹ Fatima:
Năm 1917, khi hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima, Ðức Mẹ đã truyền dạy phải thực hiện 3 mệnh lệnh Fatiam để cứu nhân loại và cức các linh hồn khỏi lửa luyện ngục. Ba Mệnh lệnh đó là:
1. Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống 2. Tôn sùng Trái Tim vẹn sạch Ðức Mẹ 3. Lần Chuỗi Mân côi

Năm Toàn Xá cho Giáo Phận Phan Thiết

TOÀ ÂN GIẢI TỐI CAO
Prot.N.523/08/I


SẮC LỆNH

Toà Ân Giải Tối Cao, để thêm lòng đạo đức cho các tín hữu và ơn cứu rỗi cho các linh hồn, do quyền hạn đã được ban một cách rất đặc biệt trong Chúa Kitô là Cha và là Chúa chúng ta, cho Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, do sự quan phòng của Thiên Chúa, qua thỉnh nguyện mới đệ đạt của Đức Giám Mục đáng kính Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, nay quyết định mở kho tàng Giáo Hội trên trời mà sẵn lòng ban Ơn Toàn Xá, với những điều kiện thông thường ( xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng ) theo như lễ nghi đã chỉ định cho các tín hữu thật lòng thống hối tại chính Trung Tâm Thánh Mẫu TàPao, Ơn Toàn Xá này cũng có thể chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục, nếu họ sốt sắng tham dự việc cử hành Năm Toàn Xá này hoặc làm các việc đạo đức kính Đức Trinh Nữ Maria TàPao hoặc ít ra trong thời gian thích hợp, họ dục lòng đạo dức mà đọc Kinh lạy Cha, kinh Tin Kính theo công thức hợp pháp nào đó và khẩn cầu cùng Đức Mẹ TàPao:
-trong những ngày 8/12/2008 và 2009 khi long trọng cử hành lễ Khai mạc và Bế mạc Năm Toàn Xá;
-trong các ngày 13 mỗi tháng;
-trong mọi nghi thức phụng tự kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria.
Các người già, các bệnh nhân và mọi người có lý do quan trọng không thể ra khỏi nhà được vẫn có thể lãnh Ơn Toàn Xá này miễn là có lòng thống hối tội lỗi và quyết tâm thi hành trong thời gian sớm nhất ba điều kiện thông thường, nếu họ hiệp thông một cách thiêng liêng vào các việc cử hành Năm Toàn Xá và vào các cuộc hành hương, trong khi dâng lời nguyện và những nỗi khổ đau, những sự khó khăn trong cuộc sống riêng của họ cho lòng nhân từ của Thiên Chúa qua Mẹ Maria.
Sắc lệnh này chỉ có hiệu lực một lần. Triệt tiêu hoàn toàn mọi cản trở.
Ban hành tại Rôma do Toà Ân Giải Tối Cao ngày 28 tháng 7 năm 2008.

JACOBUS FRANCISCUS S.R.E. Hồng Y STAFFORD,
Paenitentiarius Maior.
Joannes Franciscus Girotti, O.F.M. Conv.
Ep. Tit. Metensis, Regens.

(Ấn ký)
(bản dịch của LM Phêrô Nguyễn Hữu Đăng)

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2008

Tâm sự của một cô gái khiếm thính

01/10/2008 15:55
Bạn Cao Thị Hoàng Sa: "Tôi muốn được làm việc và hòa nhập với mọi người" - Ảnh: Như Lịch
Từ Bình Dương, tôi lên TP.HCM học tại trường ĐH Công nghiệp 4. Tốt nghiệp xong, tôi đi làm ở một công ty nhựa.
Song song đó, tôi theo học ngành Công nghệ Hóa học và Thực phẩm - trường ĐH Bách khoa TP.HCM. Khi đang học năm thứ hai trường ĐH Bách khoa, tôi đổ bệnh. Bác sĩ chẩn đoán là tôi bị sốt siêu vi nên truyền nước biển, tiêm và cho thuốc uống. Vì không có người chăm sóc, mẹ tôi bảo đưa tôi về Bình Dương. Nhập viện ở quê, các bác sĩ chẳng biết bệnh gì cả, chỉ thấy tôi sốt mãi mà không giảm, ăn gì cũng nôn ra hết nên cứ khám bụng tôi hoài. Khi bớt sốt, dù tai không nghe thấy gì nhưng tôi vẫn được cho xuất viện. Về nhà, tôi sốt lại nên mẹ đưa đi Sài Gòn.
Lúc đó tôi chẳng nghe được gì ngoài âm thanh ù ù, rè rè và văng vẳng bài hát Vầng trăng khóc bên tai. Đó là bài hát mà hàng xóm mở suốt khi tôi nằm điều trị bệnh ở nhà. Và nó lởn vởn quanh tai tôi suốt gần 1 năm đằng đẵng. Một số bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng bảo đó là triệu chứng của bệnh điếc và trách gia đình sao đưa tôi đến trễ vậy! Uống đủ loại tây dược, đông dược, làm theo đủ mọi lời mách bảo, bệnh tình tôi vẫn không thuyên giảm. Tôi thấy mình tệ quá vì suốt thời gian dài trước khi bị bệnh, tôi đã không phụ giúp gì, bây giờ lại chất chồng thêm nặng gánh cho mẹ. Thời gian này, người yêu tôi hờ hững nên tôi càng buồn. Hụt hẫng, quẫn chí, tôi đã tự tử một lần, rồi hai lần nhưng tất cả đều không thành.
Mẹ sợ tôi bỏ đi nên đành nhốt tôi lại. Nhiều lần tôi đập đầu vào tường để mình chết đi nhưng lần nào mẹ cũng cố sức ngăn cản. Mẹ viết giấy xin lỗi, nhưng tôi không thèm đọc. Mẹ khóc, tôi suy nghĩ lại... Tôi biết rằng khi tôi đau, mẹ cũng sẽ rất đau. Tôi nói với mẹ rằng, bây giờ con là gánh nặng, là món nợ đời cho mẹ; con chẳng làm được gì hết, chỉ tốn tiền của mẹ! Và mẹ tôi bảo: "Mẹ không cần gì hết, chỉ cần con thôi!". Thế là cả hai mẹ con cùng khóc...
Tôi lên lại TP.HCM để tìm việc làm. Mẹ lo sợ đủ điều cho tôi. Mẹ sợ tôi ra đường sẽ bị xe tông vì không nghe được gì... Tôi được giới thiệu với Chương trình Khuyết tật và Phát triển cũng như Câu lạc bộ Khiếm thính tại TP.HCM. Tôi được 2 bạn khiếm thính là Mai và Dung giúp đỡ. Các bạn ấy rất tốt với tôi, nhưng chúng tôi cũng giận nhau hoài... chỉ vì nói mà không hiểu! Qua người quen và qua quảng cáo trên báo, internet, tôi đã xin việc làm nhưng rồi tôi phải rời những công việc đó, vì nhiều lý do. Có chỗ người ta không phân biệt người khiếm thính, song có chỗ làm tôi thấy tổn thương quá đỗi! Tôi còn nhớ khi thử việc cho một studio cưới, với mức lương 1,2 triệu đồng/tháng (phải ký hợp đồng 1 năm, thời gian làm việc mỗi ngày từ 8 - 21 giờ), sếp khen tôi làm việc hiệu quả. Thế nhưng, chỉ sau 10 ngày, vợ sếp buộc tôi nghỉ việc. Có thể bà ấy ghen vì cho rằng tôi và sếp đang "tán tỉnh" nhau. Thực ra, do tôi không nghe được nên chúng tôi phải viết ra giấy khi cần trao đổi công việc.
Sau mấy bận long đong, hiện tôi là nhân viên thiết kế trong Công ty TNHH Xây dựng và Quảng cáo Duy Bình. Lúc đầu tôi không được nhận cũng vì lý do tôi không nghe được. Tuy nhiên, tôi đã thuyết phục được và sếp đã cho tôi cơ hội đến bây giờ. Ở công ty mới, tôi luôn được giúp đỡ trong công việc cũng như trong đi lại. Tôi được trao đổi với sếp và đồng nghiệp qua chat nên không quá bất tiện. Tôi rất yêu thích việc làm này vì nó phù hợp với tình trạng sức khỏe của tôi. Tôi không chắc là mình có trụ lâu dài được hay không vì công việc rất khó, nhưng mỗi ngày tôi đều cố gắng.
Cũng có những lúc quá mệt mỏi, nản chí, tôi muốn về nhà với mẹ. Tôi muốn được bình yên! Nhưng tôi không thể. Tôi phải làm việc để thấy mình còn có ích. Tôi không muốn thua kém bạn bè. Tôi không muốn mọi người nhìn tôi bằng ánh mắt thương hại nữa...
N.L(Ghi theo lời kể của bạn Cao Thị Hoàng Sa - thành viên Câu lạc bộ Khiếm thính TP.HCM)

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2008

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2008

Mừng bổn mạng Cha Phó



Ban Giúp Lễ mừng bổn mạng Cha Phó




Chiếc bánh kem của các Huynh Trưởng đấy




Tối hôm nay, 27.09.2008, sau khi tập hát, Ca đoàn thiếu nhi cùng với Dì phụ trách ca đoàn, chúc mừng bổn mạng Cha Phó, thánh Micae Tổng Lãnh Thiên Thần, mang theo hoa, quả và cả tâm hồn ca hát.

Khai mạc trại Huynh Trưởng Cấp 1

Sáng Chúa Nhật, ngày 21.09.2008, Cha Chánh Xứ cùng với Cha Tuyên Úy, các Trợ Úy và Ban chấp hành xứ đoàn Maria, khai mạc Trại Huynh Trưởng cấp 1 cho 19 Dự Trưởng giáo xứ Chính Tòa – Phan Thiết, để các Dự Trưởng được huấn luyện và được thăng cấp lên Huynh Trưởng.

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2008

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử Giáo Hội

Một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử Giáo Hội:Trong một năm:3 vị Giáo Hoàng, 2 lần triệu tập Cơ Mật Viện, 1 cái chết gây nghi vấnCách đây đúng 30 năm về trước, vào năm 1978 đã xảy ra trong Giáo Hội Công Giáo một biến cố độc nhất vô nhị, đó là: • ba vị Giáo Hoàng liên tiếp kế vị nhau, • hai lần các ĐHY trên khắp thế giới đã được triệu tập về Roma tham dự Cơ Mật Viện để bầu Tân Giáo Hoàng, • và sự kiện băng hà quá đột ngột của ĐGH Gioan Phaolô I đã tạo cơ hội cho các dư luận thế giới đặt nghi vấn.ĐGH Phaolô VI. ĐGH Gioan Phao I. ĐGH Gioan Phaolô II1) Đức Phaolô VIVào giữa tháng 7 năm 1978, khi ĐGH Phaolô VI lên đường đi nghỉ hè tại Castelgandolfo, có lẽ ngài đã biết trước được cuộc hành trình trần thế của mình đã sắp sửa kết thúc khi ngài tâm sự với bộ trưởng Nội Vụ của ngài là ĐHY Giuseppe Capriô: «Ta không biết có trở lại nữa hay không … và Ta sẽ trở lại bằng cách nào.» Ngày 2.08.1978, ngài còn xuất hiện trong cuộc yến kiến chung ngay trong sân nội của dinh Castelgandolfo. Sau đó là ngài bị lên cơn sốt dữ dội trong suốt hai ngày liên tiếp. Vì thế Kinh Truyền Tin vào trưa Chúa Nhật bị bãi bỏ và dư luận càng xôn xao. Trong khi đó cơn sốt càng lên cao, còn huyết áp lại hạ xuống quá thấp, và với tuổi 80, Đức Phaolô VI không còn sức để cầm cự với cơn bệnh nữa. Và Vatican đã thông báo cho toàn thế giới: «Vào lúc 21g40 ngày Chúa Nhật, 6.08.1978, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã an nghỉ trong Chúa.»Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, Đức Phaolô VI được mệnh danh là vị «Giáo Hoàng của Công Đồng». Thực ra Đức Gioan XXIII đã triệu tập và khai mạc Công Đồng chung Vatican II. Nhưng chính Đức Phaolô VI mới là người điều khiển và kết thúc tốt đẹp Công Đồng quan trọng này. Trước khi được bầu làm Giáo Hoàng với tước hiệu Phaolô VI vào ngày 21.6.1963, ĐHY Giovanni Battista Montini giữ chức bộ trưởng Bộ Nội Vụ của Vatican.Đức Phaolô VI hướng dẫn hướng đi của Công Đồng là mở cửa Giáo Hội thông ra với thế giới. Là vị Giáo Hoàng đầu tiên của thời đại mới hậu Công Đồng, Đức Phaolô VI đã khởi đầu các cuộc tông du đến với các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở khắp nơi trên thế giới. Ở Giê-ru-sa-lem, ngài đã cùng với Đức Thương Phụ Athenagoras thành Constantinople khởi động công cuộc xích lại gần nhau giữa các Giáo Hội Kitô giáo đang bị phân ly từ hàng thế kỷ qua. Chính ngài cũng tìm cách mở rộng mối quan hệ với các tôn giáo khác. Về lãnh vực chính trị, khi thế giới được chia ra làm khai khối liên kết chống đối nhau rõ rệt bằng một cuộc chiến tranh lạnh đầy đe dọa, Đức Phaolô VI đã nổ lực đưa ra một đường lối ngoại khôn khéo mềm dẽo với mục đích nhằm mang lại cho các Kitô hữu đang sống bên kia bức màn sắt dưới chế độ cộng sản vô thần một chút không khí nhẹ nhàng dễ thở hơn. Dĩ nhiên, đường lối ngoại giao mềm dẽo cần thiết như thế với các chế độ cộng sản ở Đông Âu đã không tránh khỏi những phê bình chỉ trích của một số nhà chính trị phía khuynh hữu.Còn việc áp dụng các quyết định của Công Đồng vào đời sống cụ thể của Giáo Hội, người ta có thể nói là đầy vất vả. Là người vốn có bản tính hay do dự, Đức Phaolô VI thường đã rơi vào tình trạng «tiến thoái lưỡng nan» giữa các khuynh hướng đối kháng nhau trong Giáo Hội vào lúc bấy giờ của những người chủ trương canh tân cải tổ và của những người chủ trương duy trì bảo thủ. Nhưng bầu không khí phê bình chống đối mạnh mẽ trong cũng như ngoài Giáo Hội thực sự bùng nổ vào năm 1968 khi Đức Phaolô VI cho công bố thông điệp «Humanae Vitae» đề cập đến phẩm giá đời sống con người. Trong bức thông điệp, Đức Phaolô đã minh định rằng các phương tiện hạn chế sinh sản một cách giả tạo là hoàn toàn đi ngược lại chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, một điều Người đã khắc ghi vào trong thiên nhiên như một định luật bất khả thay đổi. Và đó là sự thật.Thi hài Đức Phaolô VI đã được di chuyển từ Castelgandolfo về quàn tại đền thờ Thánh Phêrô. Sau đó sáu ngày thì ngài được an táng trong một ngôi mộ đất đơn sơ ngay dưới đền thờ Thánh Phêrô.2) Đức Gioan Phaolô IMười chín ngày sau khi Đức Phaolô băng hà, 111 vị Hồng Y trên khắp thế giới đã được triệu tập về Roma tham dự Cơ Mật Viện để bầu Tân Giáo Hoàng. Các tiêu chuẩn được đưa ra để bầu vị Tân Giáo Hoàng vào thời hậu Công Đồng phải là:• người có tinh thần hoà giải, biết can đảm bênh vực những người nghèo khổ và những người bị đàn áp trên khắp thế giới, • người vừa biết mở rộng cửa ra với thế giới và vừa biết tôn trọng các truyền thống và quá khứ cao đẹp và thánh thiêng của Giáo Hội, • người có uy quyền cá nhân, cụ thể và dứt khoát trong hành động cũng như có đặc sủng chuyên biệt,• người có tinh thần hợp tác với các Giám Mục và các thành phần Dân Chúa trên phắp thế giới.Vào lúc bấy giờ, ở bên ngoài tuy khí trời mùa hè đã hạ nhiệt, nhưng trong Cơ Mật Viện, các Đức Hồng Y hiện diện đã phải tuân thủ những điều kiện bầu cử hết sức chặt chẽ và nghiêm khắc. Và cuộc họp của Cơ Mật Viện lần này là một cuộc họp ngắn nhất trong lịch sử, chỉ sau ba vòng bầu trong ngày đầu tiên các Đức Hồng Y đã dồn phiếu cho ĐHY Albino Luciani, Thượng Phụ thành Venise/Ý. ĐHY Albino Luciani đã vâng theo thánh ý Chúa chấp nhận kết quả cuộc bầu cử Giáo Hoàng và lên ngôi kế vị Đức Phaolô VI với tước hiệu Gioan Phaolô I. Đây là một tước hiệu mang ý nghĩa sâu xa: trước hết muốn nói lên ngài là vị Giáo Hoàng của Công Đồng Vatican II với tinh thần canh tân và mở cửa Giáo Hội của hai vị Tiền Nhiệm thánh thiện khả kính của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI, những vị Giáo Hoàng đã triệu tập, khai mạc, điều khiển và kết thúc tốt đẹp thánh Công Đồng chung Vatican II. Đức Gioan Phaolô I đã thu phục được cảm tình của dư luận thế giới bằng những bài thuyết giảng đơn sơ, phù hợp với đại chúng và bằng thái độ cử chỉ thân thiện gần gũi của ngài. Vì thế, người ta đã đặt cho ngài biệt danh: «Vị Giáo Hoàng mỉm cười.»Nhưng tiếc thay, Đức Gioan Phaolô I đã đi vào lịch sử Giáo Hội như là vị «Giáo Hoàng 33 ngày». Vâng, vừa lên ngôi Giáo Hoàng mới 33 ngày, chưa kịp thi hành sứ vụ của mình thì Đức Gioan Phaolô I đã đột ngột qua đời. Có lẽ bộ máy hành chánh vĩ đại và vô cùng khó khăn phức tạp của giáo triều Vatican xem ra vượt sức một vị Mục Tử với tâm hồn đơn sơ, dễ thương và nhân hậu như Đức Gioan Phaolô I; thêm vào đó cả mặc cảm bị lẻ loi lạc lõng cũng hằng ám ảnh ngài.Đứng trước cái chết như thế, các nhà văn viết tiểu thuyết với đầu óc tưởng tượng phong phú của họ đã đưa ra những giả thuyết đầy nghi vấn về cái chết đột ngột của Đức Gioan Phaolô I, như ông David Yallup trong cuốn tiểu thuyết của ông với nhan đề là «Im Namen Gottes» - (Nhân danh Thiên Chúa), một cuốn tiểu thuyết đã bán được hàng triệu ấn bản, cho rằng cái chết của Đức Gioan Phaolô I là do bị bỏ thuốc độc. Nhưng đây chỉ là một nghi vấn thiếu kiểm chứng, vì các bác sĩ y khoa đã chứng thực một cách khoa học và khách quan rằng đó cái chết tự nhiên, hậu quả của chứng đau tim.3) Đức Gioan Phaolô IISau khi Đưc Gioan Phaolô I băng hà, dư luận bắt đầu nói đến hiện tượng «trong một năm: hai cơ mật viện, ba vị giáo Hoàng» và cũng vì cái chết đột ngột của Đức Gioan Phaolô I, nên vị Giáo Hoàng kế vị phải là: • người trẻ trung, khoẽ mạnh,• người có khả năng nắm vững được bộ máy hành chánh vô cùng nặng nề phức tạp của giáo triều cũng như các ĐHY làm việc trong đó.Nhưng vì vào lúc bấy giờ không một vị Hồng Y người Ý nào hội đủ được các tiêu chuẩn trên để có thể chiếm được đa số phiếu, các Đức Hồng Y đã nghĩ ngay đến ĐHY Karol Wojtyla mới 58 tuổi, Tổng Giám Mục Krakau/Ba Lan và đã dồn phiếu cho ngài. Vào ngày 16.10.1978, sau 455 năm, lần đầu tiên một vị Hồng Y không phải người Ý đã lên ngôi Giáo Hoàng với tước hiệu Gioan Phaolô II.«Anh chị em đừng sợ! Hãy mở rộng, vâng, hãy tháo bỏ mọi cửa ngõ cho Đức Kitô. Anh chị em hãy dẹp bỏ mọi ranh giới phân chia giữa các quốc gia!» đó là những lời đầy xác tín của Đức Gioan Phaolô II trong bài giảng đầu tiên bằng tiếng Ý của ngài, và qua đó Đức Tân Giáo Hoàng đến từ Ba Lan đã chiếm được con tim của dân chúng Roma.Mặc dù về phương diện tôn giáo và luân lý, Đức Gioan Phaolô II được đánh giá là bảo thủ, nhưng về phương diện ngoại giao, chính trị và xã hội, v.v… ngài lại được đề cao là người thức thời, cởi mở, thông thoáng, hòa đồng và bình dân. Vì thế, ngài đã trở thành «ngôi sao của các phương diện truyền thông». Ngài tổ chức các cuộc tông du trên khắp thế giới, đến với mọi thành phần Dân Chúa ở từng góc cùng ngõ hẻm sang trọng hay bần cùng của các quốc gia. Chính Đức Gioan Phaolô II đã gây nên những tác động quyết định trong sự sụp đổ và giải thể của chế độ độc tài cộng sản ở Liên Sô và các nước Đông Âu.Vào lúc 21g37 ngày 2.4.2005, sau gần 27 năm trên ngôi Giáo Hoàng điều khiển Giáo Hội hoàn vũ một cách quả quyết và xác tín giữa một thời đại đầy thách đố khó khăn với những trào lưu tục hóa, vô thần, bạo động, khủng bố, v.v… không ngừng đe dọa, Đức Gioan Phaolô II đã ra đi vào chốn vĩnh cửu như một kẻ chiến thắng giữa sự thuơng tiếc không nguôi của tất cả mọi người thiện tâm trên khắp thế giới, bất kể tôn giáo, chính trị, màu da, chủng tộc. Và tất cả đều đã nâng cao khẩu hiệu đầy ấn tượng trong ngày an táng của ngài: «Santo sibito!» - Hãy phong thánh cho ngài ngay!
Lm Nguyễn Hữu Thy
Lượt xem:

Free Web Site Counter

Người đang theo dõi blog này

Powered By Blogger